Thứ Hai, 1 tháng 9, 2014

Kế hoạch châm ngòi Thế chiến 3

Kế hoạch châm ngòi Thế chiến 3


Thủ tướng Anh Winston Churchill từng mưu tính cùng Mỹ tấn công Liên Xô vào cuối Thế chiến 2 với kế hoạch mang mật danh Chiến dịch không tưởng.


Từ trái sang: Thủ tướng Anh Winston Churchill, Tổng thống Mỹ Franklin D.Roosevelt và lãnh đạo Liên Xô Joseph Stalin tại Hội nghị Yalta tháng 2.1945 - Ảnh: History.com  
Giữa lúc phương Tây và Nga đang rất căng thẳng vì vấn đề Ukraine, giới truyền thông và một số chuyên gia đã nhắc đến nguy cơ xảy ra Thế chiến 3. Điều ít người biết là đã suýt có thêm một cuộc chiến hủy diệt xuất phát từ ý tưởng điên rồ của Thủ tướng Anh Winston Churchill.
Trong giai đoạn cuối Thế chiến 2, khi chữ ký trên văn kiện đầu hàng của Đức còn chưa ráo mực và Mỹ đang giao chiến với Nhật ở Thái Bình Dương, Thủ tướng Churchill đã bí mật yêu cầu nội các chiến tranh của ông vạch kế hoạch tấn công Liên Xô.
Cơn cuồng vọng ở nước Anh
Theo tờ Daily Mail, các viên tướng Anh đã thất kinh khi được yêu cầu nghĩ ra chiến lược “áp đặt ý chí của Mỹ và đế quốc Anh lên người Nga”, qua đó châm ngòi Thế chiến 3. Churchill trấn an họ rằng cuộc tấn công sẽ do Mỹ dẫn đầu và được yểm trợ bằng đoàn quân thất trận của nước Đức. Ý tưởng điên rồ của Churchill xuất phát từ một vài yếu tố. Trong cuốn Finest Years: Churchill as Warlord (tạm dịch: Những năm tháng lẫm liệt nhất: Churchill trong vai chiến tướng), nhà sử học Max Hastings viết rằng sự thỏa mãn của Churchill khi chứng kiến sự sụp đổ của Đức Quốc xã gần như bị các chiến thắng của Liên Xô ở Đông Âu phủ lấp hoàn toàn. Đến năm 1945, Liên Xô đã mạnh lên rất nhiều còn nước Anh yếu hơn so với mong đợi của Churchill, như lời bình luận của ông tại Hội nghị Yalta tháng 2.1945: “Ở bên này là con gấu Nga to xác, ở bên kia là con voi Mỹ khổng lồ, còn ở giữa là con lừa Anh còm cõi tội nghiệp”.
Thứ hai, lập trường chống Liên Xô càng được nung nấu sau khi Churchill biết về thành công của chương trình bom nguyên tử Mỹ. Theo Tham mưu trưởng lục quân Anh Alan Brooke, Churchill từng nói với ông tại Hội nghị Potsdam: “Chúng ta có thể nói với người Nga nếu họ nhất quyết làm chuyện này hay chuyện kia, thì chúng ta có thể xóa sạch Moscow, rồi tới Stalingrad, Kiev, Sevastopol và cứ thế”. Cơn bực tức của Thủ tướng Anh càng dâng cao với quyết định “nhuộm đỏ” Ba Lan của nhà lãnh đạo Joseph Stalin.
Phản ứng của các viên tướng Anh khi được yêu cầu chuẩn bị cho chiến tranh chỉ vài ngày sau khi kết thúc cuộc xung đột đẫm máu nhất lịch sử là cho rằng vị thủ tướng của họ đã mất trí. Brooke viết trong nhật ký: “Winston làm cho tôi có cảm giác ông ta khao khát có thêm một cuộc chiến”. Tuy vậy, các viên tướng vẫn vạch ra một kế hoạch, với mật danh được đặt hết sức phù hợp là Chiến dịch không tưởng. Theo đó, các lực lượng phương Tây sẽ tấn công Liên Xô trên mặt trận trải dài từ Hamburg (Đức) ở phía bắc xuống Trieste (Ý) ở phía nam.
Sứ mệnh bất khả thi
Các nhà hoạch định quân sự ước lượng cần có 47 sư đoàn quân đồng minh, gồm 14 sư đoàn xe tăng, để phát động tấn công. Cần có thêm 40 sư đoàn dự bị để phòng thủ hoặc thực hiện nhiệm vụ chiếm đóng. Để chống lại lực lượng này, theo báo cáo của nội các chiến tranh, người Nga có thể tập hợp gấp đôi quân số và số lượng xe tăng. Báo cáo nhận xét tỷ lệ trên “cho thấy việc phát động tấn công rõ ràng là một nhiệm vụ mạo hiểm. Nếu chúng ta lao vào chiến tranh với Liên Xô, chúng ta phải chuẩn bị cho một cuộc chiến tổng lực, dai dẳng và đắt giá”. Về khả năng tái vũ trang và đưa quân đội Đức thất trận trở lại chiến trường, các nhà hoạch định lo ngại những cựu binh vừa trải qua cuộc chiến cay đắng ở mặt trận phía đông có lẽ sẽ không muốn có thêm một trải nghiệm đau đớn. Theo Max Hastings, các chỉ huy quân đội Anh hiểu rất rõ tính bất khả thi của một cuộc tấn công nhằm đưa Ba Lan khỏi tay Moscow. Brooke viết trong nhật ký của ông rằng “ý nghĩ đó dĩ nhiên là không tưởng và hoàn toàn không có cơ hội thành công. Không có nghi ngờ gì về việc Liên Xô từ nay sẽ thâu tóm quyền lực ở châu Âu”.
Như Napoleon và Hitler đã cay đắng nhận ra chiến tranh với người Nga không phải là một cuộc dạo chơi, trong báo cáo gửi Churchill, nội các chiến tranh kết luận: “Việc giành một thành công chớp nhoáng vượt quá khả năng của chúng ta và chúng ta sẽ phải lao vào một cuộc chiến kéo dài với sự thua sút lớn về quân số. Hơn nữa, tỷ lệ này còn sẽ thay đổi nếu người Mỹ trở nên mệt mỏi, muốn đứng ngoài cuộc và bắt đầu rút lui để phục vụ cho cuộc chiến ở Thái Bình Dương”. Như vậy, Chiến dịch không tưởng được xác định chỉ đơn thuần là điều không tưởng.
Kế hoạch thứ hai
Khả năng người Mỹ rút lui để dồn sức chống Nhật khiến Churchill tỏ ra cảnh giác. Nếu người Mỹ xoay trục sang Thái Bình Dương, Anh sẽ trơ trọi và đối mặt với khả năng tấn công của Liên Xô, vốn đủ sức chinh phạt lên biển Bắc và Đại Tây Dương. “Hãy nghiên cứu về cách chúng ta có thể bảo vệ hòn đảo của mình, với giả định Pháp, Hà Lan, Bỉ và Luxembourg không đủ sức chặn đà tiến của người Nga”, ông chỉ thị. Tuy nhiên, lúc này có vẻ như ông đã lấy lại được sự tỉnh táo khi nói thêm rằng nên giữ lại mật danh Chiến dịch không tưởng cho kế hoạch thứ hai này, “để bộ tham mưu nhận ra đây chỉ là nghiên cứu phòng ngừa cho điều mà tôi hy vọng vẫn là một sự kiện khó có khả năng xảy ra”. Trước khi gửi chỉ thị, ông đã lấy viết đỏ và sửa lại cụm từ “sự kiện khó có khả năng xảy ra” thành “trường hợp bất ngờ chỉ đơn thuần là giả thuyết”. Chiến dịch không tưởng lúc đó trở thành kế hoạch phòng thủ nước Anh trước một cuộc tấn công của Liên Xô.
Trả lời câu hỏi về điều gì sẽ xảy ra nếu Liên Xô tấn công qua eo biển Manche, các viên tướng kết luận sức mạnh hải quân của người Nga quá hạn chế để có thể tiến hành cuộc đổ bộ bất ngờ. Họ xem nhẹ kịch bản Liên Xô sử dụng không quân. Khả năng lớn nhất là Moscow sẽ trông cậy vào pháo kích với tiềm lực phá hủy ghê gớm hơn cả các tên lửa V1 và V2 của Đức. Để bảo vệ đất nước trước mối đe dọa như thế, London ước lượng cần có lực lượng lớn gồm 230 phi đoàn cường kích và tiêm kích cơ cùng 300 phi đoàn oanh tạc cơ.
May mắn cho các viên tướng của Churchill, họ rốt cuộc cũng có cơ hội lên kế hoạch nghỉ dưỡng sau khi Tổng thống Mỹ Harry Truman, người kế nhiệm Franklin D.Roosevelt, gửi một bức điện nói rõ rằng đừng bao giờ nghĩ đến việc Washington giúp sức, chứ chưa nói đến cầm đầu, một cuộc tấn công đẩy bật người Nga ra khỏi Đông Âu hoặc thậm chí chỉ đe dọa Moscow là họ sẽ làm thế. Hồ sơ về Chiến dịch không tưởng từ đó được đóng lại. 
Chiến dịch Pike
Chiến dịch không tưởng không phải là kế hoạch tấn công Liên Xô đầu tiên của Anh. Không lâu trước khi Thế chiến 2 khởi phát, Anh và Pháp đã lo ngại về khả năng Liên Xô cung cấp dầu cho Đức. Khi đó, 2 nước này vừa ký hiệp ước không xâm lược lẫn nhau, cho phép Đức phát động chiến tranh mà không lo ngại Liên Xô can thiệp. Đáp lại, các chiến lược gia Anh và Pháp vạch ra kế hoạch tên Chiến dịch Pike để làm tê liệt nghiêm trọng nền kinh tế Liên Xô bằng cách oanh tạc các cơ sở sản xuất dầu.
Việc thiếu dầu sẽ làm xói mòn nỗ lực chiến tranh của Đức. Họ kết luận các mục tiêu thích đáng nhất là các mỏ dầu ở Azerbaijan, vốn nằm trong tầm tấn công của các oanh tạc cơ Anh và Pháp đóng tại Trung Đông. Tháng 4.1940, máy bay đã xuất kích đến mục tiêu song không thả bom. Thay vào đó, họ quyết định dùng sức mạnh không quân để uy hiếp Liên Xô ngưng cung cấp dầu cho Đức quốc xã. Sau khi Đức tấn công Pháp năm 1940, kế hoạch được gác lại vô hạn định. Người Anh lo sợ nếu tiến hành chiến dịch, Liên Xô sẽ về phe với Đức.
Xúc tác cho Chiến tranh Lạnh
Theo Daily Mail, Stalin đã loáng thoáng nhận ra những tính toán của Churchill ngay từ rất sớm. Ông từng cảnh báo với Nguyên soái Georgi Konstantinovich Zhukov về Churchill: “Gã này có thể làm bất kỳ điều gì”. Một trong số nhiều điệp viên của Liên Xô tại London đã báo cho Moscow thông tin về một chỉ thị gửi đến Nguyên soái Bernard Montgomery, chỉ huy quân Anh tại Đức, hối thúc ông dự trữ những vũ khí thu giữ từ quân Đức để chuẩn bị cho khả năng sử dụng trong tương lai. Tuy nhiên, những mưu tính của Churchill vẫn là một bí mật quốc gia của Anh trong hơn nửa thế kỷ, cho đến khi được xác nhận trong các hồ sơ do Thư viện Quốc gia công bố năm 1998. Cùng với thái độ “lên mặt” của Mỹ sau khi khiến cả thế giới thất kinh với vũ khí hạt nhân, Chiến dịch không tưởng tạo ra không khí nghi kỵ và gầm ghè nhau giữa các đồng minh một thuở. Qua đó, trở thành một chất xúc tác cho chiến tranh lạnh.
Sơn Duân

Chủ Nhật, 3 tháng 8, 2014

CÁC BIỆN PHÁP QUÂN SỰ CỦA MỸ KHI CHUYỂN DỊCH TRỌNG TÂM CHIẾN LƯỢC SANG PHÍA ĐÔNG VÀ SÁCH LƯỢC ĐỐI PHÓ CỦA TRUNG QUỐC

CÁC BIỆN PHÁP QUÂN SỰ CỦA MỸ KHI CHUYỂN DỊCH TRỌNG TÂM CHIẾN LƯỢC SANG PHÍA ĐÔNG VÀ SÁCH LƯỢC ĐỐI PHÓ CỦA TRUNG QUỐC


THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM (Tài liệu tham khảo đặc biệt)
Chủ Nhật, ngày 17/11/2013
(Tạp chí “ Vòng quanh Đông Nam Á ”, tháng 5/2013)
1. Nguyên nhân của việc Mỹ chuyển dịch trọng tâm chiến lược sang phía Đông
Trên thực tế, từ sau khi Chiến tranh Lạnh những năm 90 của thế kỷ 20 kết thúc, Mỹ bắt đầu tiến hành bố trí chiến lược ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Trong thời kỳ Chính quyền Bill Clinton, xu hướng Mỹ chuyển dịch chiến lược sang phía Đông đã bắt đầu xuất hiện.
Tháng 7/1993, Tổng thống Mỹ Bill Clinton cho rằng: “Thời điểm Mỹ cùng với Nhật Bản và các nước khác trong khu vực này xây dựng ‘Cộng đồng Thái Bình Dương mới’ đã đến. Tháng 11/1993, Tổng thống Bill Clinton lại cho rằng sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, châu Á có lợi ích kinh tế quan trọng đối với Mỹ, vì vậy, sau Chiến tranh Lạnh, Mỹ sẽ chuyển hướng từ châu Âu sang châu Á, từ ưu tiên an ninh sang ưu tiên kinh tế. Sau sự kiện “11/9” năm 2001, Chính quyền Bush (con) phát động Chiến tranh Afghanistan và Iraq, coi hai quốc gia này là cứ điểm quân sự, tăng cường lực lượng quân sự của Mỹ tại châu Á. Ngay cả khi chính Bush (con) đang tập trung chống khủng bố, nhưng Mỹ vẫn không quên tăng cường bố trí quân sự ở đảo Guam. Mỹ coi trọng các nước đồng minh, tích cực xử lý quan hệ với các nước phi đồng minh ở khu vưc châu Á-Thái Bình Dương, cố gắng chủ đạo toàn diện trật tự chính trị kinh tế và an ninh của khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Vì vậy, nếu như nói Mỹ quay trở lại châu Á-Thái Bình Dương, không bằng nói Mỹ chưa từng rời khỏi khu vực châu Á Thái Bình Dương. Và từ khi Chính quyền Obama lên cầm quyền đến nay, Chính phủ Mỹ càng chú trọng việc chuyển dịch trọng tâm chiến lược toàn cầu của Mỹ sang khu vực châu Á-Thái Bình Dương Tháng 10/2010, tại Hawaii Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đã có bài diễn thuyết về chính sách châu Á của Mỹ, nêu rõ phải chuyển dịch toàn diện trọng điểm về ngoại giao, kinh tế, an ninh quân sự và truyền bá giá trị quan của Mỹ sang châu Á. Ngay từ ngày đầu tiên khi Chính quyền Obama lên cầm quyền đã coi việc chuyển dịch trọng tâm chiến lược sang phía Đông là nhiệm vụ hàng đầu của Mỹ. Chính sách quay trở lại châu Á đại diện cho xu thế bành trướng của Mỹ ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Trong nhiệm kỳ thứ hai, Tổng thống Mỹ Barack Obama đã lựa chọn khu vực Đông Nam Á làm khu vực đến thăm đầu tiên của mình. Ngày 18/11/2012, tại Bangkok, Thái Lan, Obama bầy tỏ sau khi đắc cử nhiệm kỳ thứ hai việc Obama đến thăm 3 nước châu Á không có gì là bất ngờ, vì Mỹ chính là và mãi mãi là quốc gia Thái Bình Dương khu vực châu Á-Thái Bình Dương là khu vực tăng trưởng nhanh nhất của kinh tế thế giới, khu vực này rất quan trọng đối với an ninh và phồn vinh của Mỹ trong thế kỷ 21, đóng vai trò then chốt đối với việc tăng thêm việc làm của người dân Mỹ. Việc Mỹ chuyển dịch trọng tâm chiến lược sang khu vực châu Á-Thái Bình Dương, có đặc điểm nổi bật là lấy “sức mạnh thông minh” làm phương châm chỉ đạo, các biện pháp vận dụng tổng hợp quân sự, chính trị kinh tế, ngoại giao… đều được tiến hành. Như việc Hillary Clinton đưa ra 6 phương châm hành động quan trọng: tăng cường liên minh an ninh song phương, đi sâu quan hệ với các nước mới nổi bao gồm cả Trung Quốc; tham gia các tổ chức đa phương khu vực; mở rộng thương mại và đầu tư; xây dựng nền tảng hiện diện quân sự vững chắc; nâng cao dân chủ và nhân quyền Trong 6 phương châm hành động nêu trên, có 3 phương châm hành động liên quan tới các bước an ninh quân sự. Đúng như Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta khi đó từng bầy tỏ: “Việc tại khu vực tiền duyên của chúng ta ở châu Á- Thái Bình Dương được bố trí lực lượng quân sự đầy đủ là trọng tâm trong cam kết của chúng ta đối với khu vực này”. Hơn nữa, “Từ lâu nay, Mỹ luôn đi sâu tham gia các công việc của khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Cho dù là trong thời kỳ chiến tranh hay là thời kỳ hòa bình, cho dù là đảng Dân chủ hay đảng Cộng hòa cầm quyền, cho dù Washington chỉ trích hay nhường nhịn nhau, cho dù thặng dư hay thâm hụt tài chính, đều không bao giờ thay đổi. Trước kia chúng ta ở đây, hiện nay ở đây, trong tương lai vẫn sẽ ở đây”. Việc bố trí lực lượng quân sự ở nước ngoài là để ủng hộ chính sách và chiến lược quốc gia của Mỹ, cũng là để bảo đảm việc Mỹ triển khai hợp tác tích cực với các đồng minh và đối tác của Mỹ, và giành lấy sự ủng hộ của các nước này.
2. Các biện pháp quân sự chủ yếu của Mỹ khi chuyển dịch trọng tâm chiến lược sang phía Đông
“Chiến lược tái cân bằng khu vực châu Á-Thái Bình Dương” trên lĩnh vực quân sự của Mỹ chủ yếu bao gồm hai mặt liên hệ với nhau, đó là: tái cân bằng về địa lý và tái cân bằng về khả năng quân sự. về địa lý, tái cân bằng chiến lược hao gồm việc điều chỉnh chiến lược khu vực, tư thế quân sự và kết cấu sức mạnh đã tồn tại ở khu vực này của Mỹ, để đối phó với các thách thức và cơ hội xuất hiện ở khu vực này. Về khả năng quân sự, tái cân bằng chiến lược bao gồm sự đầu tư cần thiết đối với các mặt như phần cứng, hệ thống và khoa học kỹ thuật..,từ đó khiến cho quân đội Mỹ có thể bảo vệ an ninh và lợi ích quốc gia Mỹ và các nước đồng minh của Mỹ, khi phải đối diện với thách thức của sức mạnh quân sự khu vực đang tăng lên nhanh chóng. Cụ thể như sau:
Thứ nhất, củng cố và phát triển quan hệ đồng minh quân sự của Mỹ ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Mỹ cho rằng mối quan hệ giữa Mỹ với các nước đồng minh và đối tác hợp tác chủ yếu ở châu Á là mấu chốt tăng trưởng và ổn định của khu vực này trong tương lai. Cựu Ngoại trưởng Hillary Clinton nhấn mạnh lịch sử đã cho thấy một khuôn khổ khu vực lớn mạnh có thể kích thích hợp tác, kiềm chế các hành vi khiêu khích. Khuôn khổ này đòi hỏi cần phải tiếp tục nỗ lực, cần có quan hệ đối tác tiếp tục nỗ lực, vững mạnh, điều quan trọng là vẫn cần có sự lãnh đạo của Mỹ, đây là trọng tâm trong chiến lược châu Á-Thái Bình Dương của Mỹ. Tất cả các hành động ngoại giao, kinh tế và quân sự của Mỹ ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương đều nhằm thực hiện mục tiêu này. Hệ thống đồng minh song phương là khởi điểm và cơ sở để Mỹ can dự vào an ninh khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Tháng 11/2009, trong thời gian đến thăm Nhật Bản, Tổng thống Obama đã có bài phát biểu quan trọng, tỏ rõ chính sách châu Á của Mỹ và thái độ của Mỹ đối với liên minh Mỹ-Nhật, Obama cho rằng: “Từ khi nhậm chức đến nay, tôi luôn nỗ lực khôi phục địa vị chủ đạo của Mỹ ở khu vực châu Á… nhưng thành quả mà Mỹ đạt được ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương trên mức độ nhất định thường phải dựa vào quan hệ đồng minh Mỹ-Nhật lâu dài và bền vững”. Các học giả Mỹ cũng kiến nghị Mỹ phải xây dựng một liên minh quân sự ở châu Á có sức hội tụ lớn hơn, như vậy mới có thể thực hiện được lợi ích chính trị và kinh tế của Mỹ, các nước đồng minh là bàn đạp của Mỹ. Và khi phải đối phó với các thách thức an ninh khó khăn đang phải đối diện ở khu vực này, kết cấu đồng minh là không thể thay thế, Nhưng với tư cách là công cụ của chính sách quốc gia, đồng minh là nhân tố biến động trong quá trình đang thay đổi không ngừng, cần phải điều chỉnh vai trò, sứ mệnh và khả năng để phù hợp với một môi trường quốc tế thay đổi. Chính quyền Obama cũng tiến hành điều chỉnh tương đối đối với hệ thống đồng minh châu Á, lợi dụng mối quan hệ căng thẳng giữa Triều Tiên và Hàn Quốc, tranh chấp đảo Điếu Ngư giữa Trung Quốc và Nhật Bản để ngăn chặn xu hướng ly tâm của Hàn Quốc và Nhật Bản, tăng cường liên minh quân sự Mỹ-Hàn và Mỹ-Nhật. Tại bán đảo Triều Tiên, Mỹ đã tăng cường hợp tác bảo đảm an ninh với Hàn Quốc, đặc biệt là sau vụ pháo kích đảo Yeonpyeong tháng 11/2010, Triều Tiên phóng vệ tinh tháng 4/2012, Triều Tiên tiến hành thử nghiệm hạt nhân lần thứ 3 tháng 2/2013, Mỹ và Hàn Quốc, Mỹ và Nhật Bản tổ chức tập trận quy mô lớn, đồng thời bắt đầu đồn trú quân đội tại Australia.
Thứ hai, mở rộng hợp tác quân sự với Ấn Độ, các nước Đông Nam Á như Singaoore, Thái Lan… Mối quan hệ giữa Mỹ và Ấn Độ ngày càng chặt chẽ. Trong 10 năm qua, quân đội Mỹ cũng tập trận với quân đội Ẩn Độ, số lần tập trận hàng năm đều tăng lên, mối liên hệ giữa quân đội hai nước cũng không ngừng mở rộng, trong 10 năm qua, Ấn Độ đã mua hơn 8 tỷ USD trang thiết bị quân sự cửa Mỹ. Mỹ đưa quân đến Australia, bố trí hải quân ở Singapore, triển khai hợp tác quân sự trên các lĩnh vực mới với Philippines, mời Myanmar tham gia tập trận “Hổ mang vàng” giữa Mỹ và Thái Lan trong năm 2013…, ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, tầu chiến hải quân, lực lượng lính thủy và lính thủy đánh bộ của Mỹ đã tham gia hơn 170 cuộc tập trận song phương và đa phương, tiến hành hơn 250 chuyến viếng thăm các bến cảng của khu vực này. Lấy các căn cứ quân sự châu Á làm căn cứ hoạt động, lực lượng vũ trang của Mỹ có thể sẽ mở rộng khả năng hoạt động của các lực lượng này đến Ẩn Độ Dương và vịnh Persian.
Thứ ba, lợi dụng tranh chấp lãnh thổ lãnh hải giữa Trung Quốc với các nước xung quanh, xây dựng vòng cung bao vây Trung Quốc, về vấn đề Biển Đông, Mỹ giữ lập trường thiên vị rõ ràng đối với các nước có tranh chấp với Trung Quốc, tiếp đến can dự vào vấn đề Biển Đông. Mỹ tuyên bố Mỹ là quốc gia Thái Bình Dương, cũng là nước lớn có sự hiện diện lâu dài ở khu vực này việc duy trì hòa bình và ổn định ở Biển Đông, bảo đảm luật pháp quốc tế được tôn trọng, bảo vệ tự do hàng hải và thương mại hợp pháp không bị cản trở đều liên quan đến lợi ích quốc gia của Mỹ. Mỹ không ngừng chỉ trích hành vi bảo vệ chủ quyền quốc gia hợp pháp của Trung Quốc, về vấn đề đảo Điếu Ngư tuy Mỹ nhiều lần tuyên bố giữ lập trường trung lập, nhưng việc chủ trương đưa đảo Điếu Ngư vào phạm vi của Hiệp ước bảo đảm an ninh Mỹ-Nhật đã cho thấy Mỹ thiên vị Nhật Bản.
Thứ tư, tăng cường thực lực quân sự của hải quân và không quân, đổi mới quan niệm tác chiến. Từ bề ngoài cho thấy ngân sách quân sự của Mỹ đang cắt giảm, trên thực tế là đang tiến hành tái bố trí khu vực. Về địa lý, tăng thêm số nước có liên hệ quân sự với Mỹ, mở rộng sự hiện diện quân sự của Mỹ ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, nâng cao khả năng hành động quân sự. Tháng 3/2013, khi diễn thuyết tại Hiệp hội châu Á-Mỹ, cố vấn an ninh quốc gia của Tổng thống Mỹ Tom Donilon cho rằng: “Trong vài năm tới, trong lực lượng quân sự của Mỹ sẽ có, một phần tương đối lớn được bố trí ở khu vực Thái Bình Dương. Đến năm 2020, 60% hạm đội hải quân Mỹ sẽ lấy khu vực Thái Bình Dương làm căn cứ. Trong 5 năm tới, không quân của Mỹ cũng sẽ dần dần chuyển trọng tâm đến khu vực Thái Bình Dương. Mỹ đang tăng cường sức mạnh của lực lượng lục quân và lính thủy đánh bộ. Lầu Năm Góc đang hoạch định kế hoạch, ưu tiên bố trí khả năng quân sự hiện đại hóa nhất cho Bộ tư lệnh Thái Bình Dương, bao gồm tầu ngầm, máy bay chiến đấu thế hệ thứ 5 như F-22 và F-35 và các loại máy bay trinh sát tiên tiến nhất. Hơn nữa, chúng ta đang hợp tác với các nước đồng minh để giành lấy tiến triển nhanh chóng trong việc mở rộng hệ thống rađa và hệ thống phòng thủ tên lửa đạn đạo, đưa tới sự bảo hộ cho các nước đồng minh của Mỹ và toàn khu vực châu Á-Thái Bình Dương”.
Đồng thời, Mỹ cũng coi trọng việc đổi mới quan niệm tác chiến, tháng 1/2012, Bộ Quốc phòng Mỹ đã công bố “Khái niệm can dự tác chiến liên hợp”, đồng thời đưa ra khái niệm “Tác chiến liên hợp không quân – hải quân”, tìm cách phối hợp và nâng cấp lực lượng không quân và hải quân. Ngoài ra, Mỹ còn đầu tư máy bay tiếp dầu trên không, máy bay ném bom kiểu mới cũng như tầu tuần tra trên biển và máy bay chống tầu ngầm tiên tiến.
3. Phân tích nguyên nhân của việc Mỹ chuyển dịch trọng tâm chiến lược sang phía Đông dưới góc độ an ninh quân sự
Từ những thông tin do Bộ Quốc phòng và các kênh chính phủ khác của Mỹ công bố cho thấy nguyên nhân của việc Mỹ chuyển dich trọng tâm chiến lược sang phía Đông chủ yếu có:
Thứ nhất, nâng cao khả năng lãnh đạo của Mỹ, duy trì địa vị lãnh đạo của Mỹ ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương và toàn cầu. Ngày 5/1/2012 Mỹ đã công bố Báo cáo chiến lược an ninh quốc gia mới nhất “Duy trì địa vị lãnh đạo toàn cầu của Mỹ – Nhiệm vụ ưu tiên của quốc phòng trong thế kỷ 21”. Mục tiêu của Mỹ là trong môi trường an ninh toàn cầu mang tính thách thức phải “duy trì địa vị lãnh đạo toàn cầu của Mỹ”, bảo đảm an ninh tuyệt đối, bảo vệ ưu thế tuyệt đối và lợi ích quốc gia của Mỹ. Thể hiện rõ địa vị lãnh đạo của Mỹ ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, tăng cường sự hiện diện tại khu vực tiền duyên của Mỹ ở khu vực này, không cho phép ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương xuất hiện cục diện sức mạnh chính trị, kinh tế, an ninh và quân sự bài xích Mỹ. Thứ hai, bảo vệ lợi ích rộng rãi của Mỹ ở khu vực châu Á- Thái Bình Dương. Nghiên cứu viên của Viện Nghiên cứu chiến lược quốc tế thuộc Đại học Quốc phòng Mỹ Jame J. Przystup từng cho rằng lợi ích của Mỹ ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương bao gồm: bảo vệ lãnh thổ của Mỹ, bảo vệ công dân Mỹ; tiến vào thị trường châu Á-Thái Bình Dương. Tại Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC), Mỹ ủng hộ những nỗ lực nhằm mở rộng và bảo đảm việc thâm nhập thị trường, tăng cường nỗ lực mở rộng thương mại thông qua việc thành lập Khu thương mại tự do châu Á-Thái Bình Dương và ký hiệp định tự do với Australia, Singapore và Hàn Quốc; bảo đảm tự do trên các vùng biển quốc tế; duy trì thế cân bằng, đề phòng bất kỳ một cường quốc và tập đoàn quốc gia nào trỗi dậy gây trở ngại cho sự tham gia về chính trị và kinh tế của Mỹ đối với khu vực này; ngăn chặn sự phổ biến của vũ khí hủy diệt hàng loạt và hệ thống phóng tên lửa đạn đạo; nâng cao dân chủ và nhân quyền. Báo cáo “Duy trì địa vị lãnh đạo toàn cầu của Mỹ – Nhiệm vụ ưu tiên của quốc phòng trong thế kỷ 21” cũng, đã trình bầy về vấn đề này: “Lợi ích kinh tế và an ninh của Mỹ có mối liên hệ mật thiết với sự phát triển được mở rộng từ Tây Thái Bình Dương và Đông Á đến khu vực Ấn Độ Dương và Nam Á, sự phát triển này tạo ra sự thay đổi không ngừng giữa thách thức và cơ hội. Vì vậy, cho dù quân đội Mỹ tiếp tục thúc đẩy an ninh toàn cầu, nhưng Mỹ vẫn phải tái điều chỉnh đối với chiến lược khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Mối quan hệ giữa Mỹ với các đồng minh và đối tác hợp tác chủ yếu ở châu Á là điều then chốt quyết định sự tăng trưởng và ổn định của khu vực này trong tương lai. Các đồng minh hiện nay của Mỹ đã đặt nền tảng quan trọng cho an ninh khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Mỹ cũng sẽ mở rộng mạng lưới quan hệ hợp tác với các đối tác mới nổi của toàn bộ khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Mỹ xây dựng quan hệ đối tác hợp tác chiến lược với Ấn Độ, để ủng hộ Ấn Độ với tư cách là nước dẫn đầu kinh tế trong khu vực, và tạo ra môi trường an ninh rộng rãi hơn ở khu vực Ấn Độ Dương”. Từ Ấn Độ Đương đến khu vực ven biển phía Tây nước Mỹ, cư trú một nửa dân số thế giới, có các đồng minh quan trọng của Mỹ, có các nước lớn kinh tế mới nổi như Trung Quốc, Ấn Độ, còn có nhiều tuyến đường vận tải năng lượng và thương mại sôi động nhất trên thế giới. Lượng hàng hóa chuyên chở thông qua Biển Đông chiếm tới một nửa lượng hàng hóa thế giới. Thứ ba, tuyên truyền “Thuyết về mối đe dọa từ Trung Quốc”, tìm kiếm lý do và tạo cớ cho việc Mỹ quay trở lại châu Á-Thái Bình Dương bằng quân sự. Thứ tư, chuyển đổi phương hướng và phương châm chiến lược quân sự của Mỹ. Chính quyền Obama đã thay đổi chính sách chống khủng bố từ chủ yếu sử dụng vũ lực trong thời kỳ Chính quyền Bush (con), chuyển sang rút quân khỏi Iraq, tăng thêm quân đội cho Afghanistan, tăng cường sự hiện diện quân sự ở châu Á, thực hiện coi trọng cả Trung Đông và Đông Á trong địa vị chiến lược quân sự của Mỹ. Từ phương châm chiến lược cho thấy Mỹ đã rút được bài học chống khủng bố ở Iraq, thay đổi chiến thuật biển người, chuyển sang nhấn mạnh tầm quan trọng về vai trò của biển đối với Mỹ, nhấn mạnh hơn nữa tầm quan trọng của hải quân đối với Mỹ, hoạch định kế hoạch tác chiến liên hợp không quân và hải quân. Và khu vực châu Á-Thái Bình Dương chính là khu vực mà Mỹ quan tâm nhất đến việc kết hợp tác chiến giữa không quân và hải quân. Từ góc độ khu vực châu Á-Thái Bình Dương cho thấy khu vực này có các đối tác đồng minh quân sự quan trọng nhất của Mỹ, lại có Trung Quốc và Nga là hai đối thủ cạnh tranh tiềm tàng chủ yếu nhất của Mỹ, vừa có vấn đề do Chiến tranh Lạnh để lại, vừa có rất nhiều vấn đề an ninh phi truyền thống.
4. Kiến nghịsách lược đối phó của Trung Quốc đối với biện pháp quân sự của Mỹkhi chuyển dịch trọng tâm chiến lược sang phía Đông
Mỹ vẫn duy trì tư duy Chiến tranh Lạnh, không ngừng tăng cường hệ thống đồng minh trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương của mình, việc Mỹ duy trì mức độ căng thẳng vừa phải ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, đặc biệt là ở tình hình khu vực xung quanh Trung Quốc có thể tạo ra cái cớ cho Mỹ chuyển dịch trọng tâm chiến lược sang phía Đông. Từ ý nghĩa này cho thấy việc Mỹ dịch chuyển trọng tâm chiến lược sang phía Đông chắc chắn sẽ là nhân tố tiêu cực trong phát triển an ninh khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Và việc Mỹ không ngừng bố trí lực lượng ở khu vực xung quanh Trung Quốc trở thành biến số lớn nhất gây ảnh hưởng đến an ninh xung quanh Trung Quốc. Để bảo vệ hòa bình, ổn định và phát triển xung quanh Trung Quốc và khu vực châu Á-Thái Bình Dương, kiến nghị Trung Quốc phải áp dụng các biện pháp tích cực để đối phó.
(1). Kiến nghị dựa theo chiến lược phát triển biển quốc gia được đề xuất trong báo cáo Đại hội 18 Đảng Cộng sản Trung Quốc, ra sức thúc đẩy công cuộc xây dựng cường quốc biển
Báo cáo Đại hội 18 của Đảng Cộng sản Trung Quốc lần đầu tiên đưa ra chiến lược phát triển biển quốc gia “nâng cao khả năng khai thác tài nguyên biển, phát triển kinh tế biển, bảo vệ môi trường sinh thái biển, kiên quyết bảo vệ quyền lợi biển quốc gia, xây dựng cường quốc biển”, vạch rõ phương hướng tiên tiến cho công cuộc phát triển và xây dựng biển của Trung Quốc. Trên thực tế, Trung Quốc muốn trở thành cường quốc thế giới chắc chắn phải hướng ra biển. Từ lịch sử cho thấy sự trỗi dậy của các nước lớn đều gắn liền với biển. Việc Mỹ thực hiện chuyển dịch trọng tâm chiến lược sang phía Đông cũng dựa trên tầm quan trọng của biển đối với Mỹ. Biển có ý nghĩa chiến lược đặc biệt đối với Trung Quốc đang trỗi dậy. Với tư cách là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, Trung Quốc không tránh khỏi phải phụ thuộc vào các nguồn tài nguyên. Và gần một nửa lượng dầu mỏ hàng năm của Trung Quốc, trên 80% thương mại quốc tế phụ thuộc vào tuyến đường vận tải trên biển đi qua eo biển Malacca. Trung Quốc tồn tại bất đồng về chủ quyền một số đảo và phân định vùng biển với một vài nước, cũng khiến cho sự quan tâm của các giới ở Trung Quốc đối với biển không ngừng tăng lên, cũng đưa tới cơ hội cho công chúng Trung Quốc nâng cao ý thức biển, kết hợp chặt chẽ giữa việc phát triển kinh tế biển; bảo vệ môi trường sinh thái biển, kiên quyết bảo vệ quyền lợi biển quốc gia với các biện pháp bảo vệ an ninh chủ quyền quốc gia, phối hợp hành động bảo vệ quyền lợi biển giữa chính phủ với nhân dân; kết hợp việc phát triển thực lực hải quân với bảo vệ lợi ích an ninh chủ quyền và lợi ích tại nước ngoài của Trung Quốc.
(2). Kiến nghị hoạch định mô hình ngoại giao xung quanh “Thái độ chủ động, can thiệp trước, có thể kiểm soát toàn bộ quá trình, có lợi cho Trung Quốc, cùng có lợi cùng thắng lợi”
Giảm thiểu việc nẩy sinh những vấn đề làm cho tình hình phức tạp thêm, đưa tới ảnh hưởng bất lợi, do không can thiệp trước hoặc mức độ can thiệp không đủ gây nên. Coi trọng việc áp dụng biện pháp chính trị, kinh tế, ngoại giao và chiến lược để bảo vệ ổn định an ninh xung quanh. Đối với vấn đề đảo Điếu Ngư, phải không ngừng củng cố những thành quả đã giành được, liên kết hai bờ eo biển Đài Loan, cùng bảo vệ chủ quyền quốc gia. Kết hợp chặt chẽ giữa việc thực thi chiến lược phát triển biển với việc giải quyết vấn đề Biển Đông.
(3). Tiếp tục thực hiện phương châm “coi láng giềng là bạn, thân thiện với láng giềng”
Đông Á là một khu vực chủ yếu khi Trung Quốc trỗi dậy, môi trường xung quanh ổn định hài hòa rất quan trọng đối với sự phát triển hòa bình của Trung Quốc. Giải quyết ổn thỏa tranh chấp lãnh thổ lãnh hải với các nước xung quanh, củng cố láng giềng hữu nghị, đi sâu hợp tác cùng có lợi, nỗ lực khiến cho sự phát triển của Trung Quốc đem đến nhiêu điều tốt lành hơn cho các nước xung quanh, thực hiện mục tiêu “láng giềng giầu có, láng giềng an ninh, láng giềng thân thiện”.
(4). Kiến nghị tích cực thúc đẩy việc phát triển lành mạnh và thuận lợi quan hệ Trung-Mỹ
Việc Mỹ dịch chuyển trọng tâm chiến lược sang phía Đông quả thực đã tạo nên sức ép và mối đe dọa nhất định cho Trung Quốc, nhưng suy cho cùng quan hệ Trung-Mỹ lại không giống với quan hệ Mỹ-Nga trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, sự phụ thuộc lẫn nhau trên lĩnh vực kinh tế, an ninh và chiến lược giữa Trung Quốc và Mỹ khiến cho quan hệ Trung-Mỹ xuất hiện cục diện cạnh tranh và hợp tác cùng tồn tại; trong một thời kỳ nhất định, sự cạnh tranh, thậm chí đối kháng giữa Trung Quốc và Mỹ trên một số lĩnh vực không thể làm mất đi hợp tác giữa hai nước. Sự mở rộng của Mỹ đối với khu vực châu Á-Thái Bình Dương cũng tăng thêm cơ hội trao đổi hiểu biết giữa Trung Quốc và Mỹ, điều hòa lập trường giải quyết tranh chấp giữa hai bên, đưa tới cơ hội cho việc thúc đẩy trật tự khu vực và thế giới phát triển theo hướng công bằng hợp lý. Vì vậy, Trung Quốc phải coi trọng vai trò của các cơ chế đối thoại Trung-Mỹ ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, tăng cường đối thoại an ninh chiến lược mới, thực hiện trao đổi lành mạnh giữa Trung Quốc và Mỹ ở khu vực châu Á- Thái Bình Dương, xây dựng quan hệ với các nước lớn mới nổi.

CHÍNH SÁCH “XOAY TRỤC” SANG CHÂU Á-THÁI BÌNH DƯƠNG CỦA MỸ: NHIỀU HỎA MÙ HƠN HỎA LỰC

CHÍNH SÁCH “XOAY TRỤC” SANG CHÂU Á-THÁI BÌNH DƯƠNG CỦA MỸ: NHIỀU HỎA MÙ HƠN HỎA LỰC

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM (Tài liệu tham khảo đặc biệt) Thứ Hai, 31/03/2014 (Tạp chí Foreign Policy – 31/1/2014) Chiếc tàu sân bay ì ạch được biết đến như là nước Mỹ nên thực hiện một sự “xoay trục” đúng
như cái tên của nó: một sự chuyển dịch từ chủ trương quân sự sang tinh thần ưa chuộng hòa
bình Trong thời đại của chính sách kinh tế thắt lưng buộc bụng và hợp tác về mặt chính sách với
Trung Quốc, sự “xoay trục” sang Thái Bình Dương của Mỹ chẳng khác gì một điệu nhảy phức tạp
mà ở đó Mỹ lùi về phía sau trong khi đấy những đồng minh của mình về phía trước. Trong bản cập nhật cuốn “Từ điển của quỷ dữ” trong tương lai, tác phẩm mổ xẻ thái độ đạo đức
giả trong ngôn ngữ học của đời sống hiện đại của tác giả người Mỹ nổi tiếng Ambrose Gwinnett
Bierce, một từ duy nhất sẽ đi kèm với cụm từ “sự xoay trục sang Thái Bình Dương” đó là: rút lui. Dường như đó là một cách thức kỳ lạ khi miêu tả nỗ lực mạnh mẽ của Chính quyền Obama trong
việc tái định hướng chính sách đối ngoại và quân sự của mình nhằm vào châu Á. Xét cho cùng,
êkíp của Tổng thống Obama đã nhấn mạnh rằng “sự xoay trục” sang Thái Bình Dương sẽ là một
sự tái khẳng định mạnh mẽ về quyền lực của Mỹ tại một khu vực mang tính chiến lược trên thế
giới và một sự tái đảm bảo có chủ tâm đối với các đồng minh ủng hộ Mỹ khi đối đầu với Trung
Quốc. Quả thực, đôi khi “sự xoay trục” dường như không hẳn là một thứ thuốc chữa bách bệnh cho tất
thảy những gì gây phiền não cho chính sách đối ngoại của Mỹ. Bối rối về những thất bại ở Iraq và
Afghanistan? Vậy hãy ra đi để tìm kiếm các vùng đất hòa bình hơn. Lo âu về việc tất cả kẻ địch
đang tan biến và Lầu Năm Góc đã đánh mất lý do hiện hữu của mình? Vậy hay là theo gót Trung
Quốc, siêu cường tương lai duy nhất có thể tưởng tượng được đang trỗi dậy? Và nếu bận tâm về
tình trạng của nền kinh tế Mỹ? Vậy Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), thỏa thuận thương mại tự do khu vực mà Mỹ đang cố gắng thương lượng có thể là liều thuốc bổ mà các tập
đoàn của Mỹ đang thèm muốn. Tuy nhiên, trên thực tế, sự “tái cân bằng mang tính chiến lược” mà Chính quyền Obama đang
thúc đẩy như là sự điều chỉnh giữa nhiệm kỳ đối với chính sách đối ngoại của Mỹ vẫn chỉ mạnh
mẽ trong giọng điệu nhưng lại khá yếu ớt về nội dung. Hãy nghĩ về điều này như là một tiểu
thuyết hư cấu tài tình mà nhiều độc giả sẵn sàng tạm ngừng sự hoài nghi của họ vì sự quảng
cáo của nó. Xét cho cùng, trong thời đại sắp tới của chính sách thắt lưng buộc bụng của Lầu Năm
Góc và phản ứng dữ dội của công luận trong nước,Washington có thể sẽ cảm thấy khó khăn khi dịch chuyển thêm bất kỳ nguồn lực đáng kể nào sang khu vực châu Á. Thậm chí TPP cũng chỉ là
một sự thừa nhận về việc khá nhiều quyền lực kinh tế trong khu vực đã rơi vào tay Trung Quốc. Ngoài ra cũng cần phải lưu ý đến một giai đoạn lịch sử lâu dài hơn. Mỹ đã bắt đầu rút quân khỏi
châu Á kể từ những năm 1970, mặc dù “động thái chiến lược rút lui về hậu phương” này theo
thuật ngữ quân sự nổi tiếng – cũng đã không diễn ra nhanh chóng hay đi kèm với những bức
ảnh “sứ mệnh hơàn thành” . “Sự xoay trục” được quảng bá rầm rộ này của chính phủ giống hơn bao giờ hết một mảng cỏ tróc
– một cú xuynh gậy, một cú đánh trượt, và một lỗ gôn, so với là bất cứ cái gì gần giống như một
cú át (hole-in-one – ghi bàn thắng chỉ bằng một cú đánh). Dấu chân dần thu hẹp Trong Chiến tranh Lạnh, Mỹ đã tham chiến và đổ máu ở châu Á nhiều hơn bất cứ nơi nào khác
trên Trái Đất. Từ năm 1950 đến năm 1953, dưới ngọn cờ Liên hợp quốc, các lực lượng Mỹ đã
phải vật lộn để kiểm soát bán đảo Triều Tiên, kết thúc mà không ký kết được một hiệp ước hòa
bình nào cùng với một sự bế tắc ở cùng đường phân chia nơi cuộc chiến đã bắt đầu. Tại một thời
điểm khi cuộc chiến tranh Việt Nam mở rộng vào những năm 1960 và 1970, số lính Mỹ tại châu
Á đã tăng lên tới hơn 800.000 quân. Tuy nhiên, kể từ khi cuộc chiến tranh thảm khốc này kết thúc, Washington đã rút quân khỏi khu vực này một cách rất từ từ và từng đợt. Hiện giờ, số
nhân viên quân sự Mỹ ở khu vực này đã giảm xuống dưới 100.000. Có thể cho là con số thấp
này ở vào những năm George w. Bush nắm quyền khi quân đội Mỹ sa lầy ở Iraq và Afghanistan,
và những người chỉ trích đã bắt đầu cáo buộc Chính quyền Bush đã “đánh mất châu Á” vào tay
một Trung Quổc đang trỗi dậy. Nhìn vào các con số, không khó để đi đến kết luận rằng sự chú ý của Washington quả thực đã
dịch chuyển ra khỏi khu vực Thái Bình Dương. Hãy xem xét Triều Tiên. Hòa bình khó có thể diễn
ra trên bán đảo này. Thực tế, vũ khí hạt nhân của Triều Tiên và sự hiện đại hóa quân sự trên
diện rộng của Hàn Quốc chỉ có tác dụng làm gia tăng căng thẳng. Tuy nhiên, Mỹ đã liên tục cắt giảm các lực lượng của mình cả về quy mô lẫn tầm quan trọng ở
Hàn Quốc trong một tiến trình chuyển giao quyền lực bị ngắt quãng. Trong vòng 45 năm qua,
Washington đã ba lần đơn phương rút quân khỏi bán đảo Triều Tiên và đều nhận được sự không
đồng tình từ phía Chính phủ Hàn Quốc. Đầu những năm 1970, gần 70.000 lính Mỹ đã đóng
quân ở Hàn Quốc vào thời điểm Chính quyền Nixon lần đầu tiên rút toàn bộ một sư đoàn gồm
20.000 quân. Sau đó, chính quyền Carter, ngay từ đầu đã rất muốn rút tất cả các lực lượng của Mỹ, đã chấp nhận một sự giảm quân hạn chế khác. Vào năm 1991, trước việc chủ nghĩa cộng
sản trên phần lớn thế giới bị sụp đổ (nhưng không phải ở Triều Tiên), Chính quyền George H.w.
Bush đã đơn phương rút vũ khí hạt nhân chiến thuật khỏi bán đảo này. Ở thế kỷ 21, sự hiện diện quân sự Mỹ đã một lần nữa thu hẹp lại – từ khoảng 37.000 quân
xuống còn 28.500 quân ở thời điểm hiện tại, lần này là bởi các cuộc đàm phán giữa Washington
và Seoul. (Một đội quân nhỏ gồm 800 binh sỹ mới đây đã được cử sang Hàn Quốc để gửi một tín
hiệu về “quyết tâm” của Mỹ đối với Triều Tiên, nhưng chỉ luân phiên 9 tháng một lần). Ngoài ra,
quân đội Mỹ đồn trú gần khu vực phi quân sự phân cách hai miền Bắc Nam, từ lâu đã mang ý
nghĩa như là “một sợi dây bẫy” sẽ đảm bảo cho sự dính líu của Mỹ trong bất kỳ cuộc chiến nào trong tương lai giữa hai nước, đang được dịch chuyển về phía Nam. Tuy nhiên, các quan chức của
Lầu Năm Góc gần đây đã nói bóng gió về việc để lại một phần lực lượng ở khu vực này. Hai nước
hiện vẫn đang đàm phán việc chuyển giao những gì mà sáu thập kỷ sau khi cuộc chiến tranh
Triều Tiên kết thúc vẫn được nhắc tới như là “kiểm soát hoạt động thời chiến,” một việc đáng ra
phải làm từ lâu. Việc cắt giảm lực lượng đã đi cùng với việc Mỹ đóng cửa và củng cố các căn cứ
của mình, bao gồm cả đơn vị đồn trú lớn Yongsan nằm giữa thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Hàn Quốc sẽ nắm toàn quyền kiểm soát nó trong một vài năm tới. “Dấu chân” Mỹ không chỉ thu hẹp lại ở Hàn Quốc. Một chiều hướng tái triển khai lặng lẽ hơn
cũng đã cắt giảm các lực lượng mặt đất của Mỹ ở Nhật Bản, từ khoảng 46.000 vào năm 1990
xuống đội ngũ gồm 38.000 quân hiện tại. Những thay đổi thậm chí còn lớn hơn hiện đang được
xem xét. Vào năm 2000, trong một chuyến công du tới Okinawa – quận lớn nhất phía Nam Nhật Bản,
Tổng thống Bill Clinton đã hứa hẹn sẽ thu nhỏ sự hiện diện quân sự đáng kinh ngạc của Mỹ trên
hòn đảo này. Vào thời điểm đó, người dân Okinavva đã rất giận dữ về một loạt vụ sát hại và
cưỡng hiếp do lính Mỹ thực hiện cũng như những vụ tai nạn liên quan đến quân sự đã cướp đi
sinh mạng của người dân Okinawa và những mối đe dọa đến sức khỏe của họ từ đủ thứ ô nhiễm
tạo ra bởi hơn 30 căn cứ quân sự của Mỹ. Kể từ đó, Washington đã theo đuổi một kế hoạch nhằm đóng cửa Căn cứ Không quân – Thủy quân lục chiến Futenma – một cơ sở cũ kỹ tọa lạc
một cách nguy hiểm giữa một thành phố hiện đại – và xây dựng một căn cứ thay thế ở một nơi
khác trên đảo hòn này. Kế hoạch này cũng đòi hỏi tái bố trí 9.000 lính thủy đánh bộ trên đảo
Okinawa tới các khu căn cứ khác của Mỹ ở Thái Bình Dương. Nếu kế hoạch này được triển khai,
các lực lượng của Mỹ tại Nhật Bản sẽ được giảm đến 25%. Tại những nơi khác ở châu Á, dưới áp lực từ các nhà hoạt động chính trị địa phương, Mỹ đã phải
đóng cửa hai căn cứ quân sự ở Philippines vào năm 1991, rút gần 15.000 binh sỹ ở nước này và
thay thế một dàn xếp đặt căn cứ lâu dài bằng một thỏa thuận khiêm tốn hơn: “Thỏa thuận Các
lực lượng thăm viếng”. Trong những năm gần đây, Washington đã đàm phán về “các hiệp định
hợp tác” với nhiều nước trong khu vực, bao gồm cả kẻ địch cũ của mình là Việt Nam, nhưng đã
không xây dựng được bất kỳ căn cứ mới đáng kể nào. Ngoài các lực lượng ở Nhật Bản và Hàn Quốc, các binh sỹ trên các tàu chiến và tàu ngầm, sự hiện diện quân sự của Mỹ ở phần còn lại
của khu vực này là không đáng kể. Dĩ nhiên, việc cắt giảm binh sỹ và đóng cửa các căn cứ không nhất thiết là những dấu hiệu rút
lui. Xét cho cùng, Lầu Năm Góc đang tập trung vào sự chuyển đổi sang một tư thế chiến đấu linh
hoạt hơn, xem nhẹ các căn cứ cố định và chú trọng vào các đơn vị phản ứng nhanh nhẹ nhàng
hơn. Trong khi đó, việc Mỹ hiện đại hóa các lực lượng của mình có nghĩa rằng hỏa lực của Mỹ đã
tăng lên ngay cả khi sự hiện diện của nước này ở Thái Bình Dương đã suy giảm. Ngoài ra, Mỹ đã
nhấn mạnh vào việc triển khai các lực lượng tác chiến đặc biệt như một phần của các hoạt động chống khủng bố ở những nơi như Philippines, Thái Lan và Indonesia, trong khi đẩy mạnh triển
khai nhiều lớp phòng thủ tên lửa đạn đạo ở khu vực. Tất cả những chính sách này đã đi trước
chiến lược “xoay trục”. Tuy nhiên, đường xu hướng kể từ những năm 1970 ngày càng trở nên rõ nét. Ngay cả khi năng
lực được nâng cấp, các lực lượng Mỹ cũng đã từ từ dịch chuyển sang một tư thế ngoài đường
chân trời ở châu Á, với việc các căn cứ quân sự ở Guam và Hawai ngày càng trở nên quan trọng
trong khi những căn cứ ở Hàn Quốc và Nhật Bản thì âm thầm xuống cấp. Khi rút lui dần,
Washington cũng gia tăng sức ép đối với các đồng minh, buộc họ phải chi trả nhiều hơn để hỗ trợ
các lực lượng của Mỹ đồn trú tại các vùng lãnh thổ của các nước này, mua các hệ thống vũ khí đắt đỏ hơn của Mỹ và tăng cường quân đội của riêng họ. Như Mỹ từng tìm cách “Việt Nam hóa”
và “Iraq hóa” các lực lượng quân sự ở các nước mà Mỹ đã rút quân khỏi, Mỹ đã thực hiện chiến
lược “châu Á hóa” từ từ của riêng mình ở khu vực Thái Bình Dương. “Sự xoay trục” không tồn tại “Sự xoay trục” sang Thái Bình Dương đã được quảng cáo như là một đường hướng nhằm tạm
ngưng chiều hướng chuyển dịch này và củng cố vị thế của Mỹ như là một bên tham gia ở châu
Á. Tuy nhiên, cho đến giờ, chiến lược “tái cân bằng” được quảng cáo rùm beng này về cơ bản
cũng chỉ là một trò cua cá, liên quan đến không phải việc tăng cường lực lượng đáng kể mà tới
một sự chuyển dịch xung quanh các lực lượng của Mỹ ở châu Á. Trò chơi này đòi hỏi, trong số các
yếu tố khác, một đội quân gồm 18.000 lính thủy đánh bộ ở căn cứ Futenma. Trong hơn 15 năm, Washington và Tokyo đã thất bại trong việc đi đến một thỏa thuận về việc đóng cửa căn cứ đã cũ
nát này và xây dựng một căn cứ mới thay thế. Đại đa số người dân Okinawa vẫn bác bỏ bất kỳ
một kế hoạch xây dựng căn cứ mới nào, một căn cứ sẽ gây tổn hại cho hệ sinh thái mỏng manh
ở khu vực nàỵ. Ngoài ra, Okinawa là nơi đồn trú của hơn 70% căn cứ quân sự của Mỹ ở Nhật
Bản, và những cư dân trên hòn đảo này mệt mỏi vì những thiệt hại phụ thêm mà binh sỹ Mỹ
gây ra cho các cộng đồng sở tại. Dù sớm hay muộn, khoảng 5.000 lính thủy đánh bộ sẽ được chuyển đến một căn cứ mở rộng
trên đảo Guam, một dự án xây đựng khổng lồ do Chỉnh phủ Nhật Bản cam kết hỗ trợ. 2.700 lính
thủy đánh bộ khác dự kiến sẽ được bố trí đến Hawaii. Khoảng 2.500 binh sỹ sẽ luân phiên đóng
quân tại căn cứ Không quân Hoàng gia Australia ở Darwin. Khoảng 8.000 đến 10.000 lính thủy đánh bộ được cho rằng sẽ tiếp tục đồn trú tại Okinawa –
hoặc ít ra, Washington và Tokyo muốn giữ nguyên lực lượng này tại đây. Nhưng điều này còn
phải phụ thuộc vào vòng đàm phán mới đây nhất. Cuối tháng 12/2013, Thị trưởng Okinawa, ông
Hirokazu Nakaima đã đột ngột thay đổi lập trường của mình phản đối xây dựng một căn cứ quân
sự mới, một phần nhờ vào khoản tiền 300 tỷ yên một năm mà Tokyo hứa hẹn sẽ bơm vào nền
kinh tế Okinawa trong 8 năm tới. Thế nhưng thỏa thuận này còn lâu mới thực hiện được. Tại cuộc bầu cử hồi tháng Giêng ở thành
phố Nago – đơn vị có thẩm quyền đối với Henoko, địa điểm căn cứ mới sẽ được xây dựng, Thị
trưởng Susumu Inamine đã tái đắc cử nhiệm kỳ thứ hai sau khi cam kết giữ vững lập trường của
mình phản đối chương trình xây dựng được đề xuất, số lượng cử tri đi bầu cao, cũng như biên độ
thắng cử của Inamine – bất chấp một sự hứa hẹn từ đảng bảo thủ cầm quyền về việc cấp thêm
cho Nago một khoản tiền trị giá 50 tỷ yên nếu người dân từ chối ủng hộ Thị trưởng đương nhiệm. Trong khi đó, các tổ chức dân sự vẫn tiếp tục nỗ lực nhằm buộc dự án này phải dừng
hoạt động. Ngoài việc bố trí lại lực lượng lính thủy đánh bộ ở khu vực Thái Bình Dương, “sự xoay trục” này
còn bao gồm những gì? Cũng chẳng có gì nhiều. Bốn tàu chiến duyên hải mới đang được chuyển
tới Singapore để tăng cường cho lực lượng tàu tuần duyên tại khu vực này. Trước hết, một biểu
hiện mức độ nhỏ, chiếc tàu thực nghiệm đó, mà đã phải chịu những chi phí phát sinh lớn, là một
phương tiện hư nát. Tàu đầu tiên tới Singapore đã phải quay lại cảng chỉ sau 8 giờ đông hồ hạ
thủy, vấn đề mới đây nhất trong một loạt các vấn đề đã khiến Quốc hội Mỹ xúc tiến một cuộc điều tra về khả năng tồn tại của chương trình này. Lầu Năm Góc đã nêu bật tầm quan trọng của một sự tái điều chỉnh đã được lên kế hoạch từ
trước về việc cân bằng các hạm đội Mỹ trên toàn cầu. Hiện tại, tỷ lệ triển khai tàu chiến giữa khu
vực Thái Bình Dương và các khu vực phi Thái Bình Dương là 50 – 50. Trong những năm sắp tới,
tỷ lệ này có thể chuyển sang 60 – 40 nghiêng về phía khu vực Thái Bình Dương. Nhưng những
tỷ lệ này không có ý nghĩa nhiều lắm nếu quy mô tổng thể của hạm đội Mỹ dịch chuyển xuống
phía Nam. Hải quân Mỹ mới đây đã đệ trình một kế hoạch tăng cường quy mô hạm đội từ 285 tàu hiện nay lên 306 tàu trong vòng 30 năm tới. Thế nhưng kế hoạch này dựa trên khía cạnh
lạc quan nhất của phân bổ ngân sách trong tương lai được tưởng tượng ra: cao hơn 1/3 so với
lượng phân bổ mà quân chủng này đã nhận được trong những thập kỷ vừa qua. Một kịch bản có
nhiều khả năng xảy ra hơn, trong thời đại của chính sách thắt lưng buộc bụng, đó là cắt giảm
hạm đội tàu chiến xuống còn 250 tàu hoặc ít hơn khi số tàu chiến giải nhiệm nhiều hơn số tàu
chiến được thêm vào hàng năm. Ở Không Lực, tình trạng này cũng chẳng khác là mấy, “sự xoay trục” cũng không đạt được mục tiêu, căn cứ vào những gì Mỹ đã triển khai ở khu vực này. Như
ông Michael Auslin thuộc Viện Nghiên cứu Doanh nghiệp Mỹ đã điều trần trước Quốc hội hồi hè
năm 2013 vừa qua: “Không quân Mỹ đã luân phiên triển khai các máy bay F-22, B-52 và B-2 tại
khu vực Thái Bình Dương, chủ yếu ở đảo Guam và Okinawa, và giờ ngày càng ít máy bay chiến
đấu hơn có thể được chuyển tới khu vực này một cách đều đặn.” Đúng là, Washington đang thúc đẩy sản xuất loại máy bay chiến đấu F-35 thê hệ mới của mình
– Nhật Bản đã hứa sẽ mua 28 máy bay loại này nhưng thật đáng thương cho nhũng đồng minh
của Mỹ. Theo một báo cáo của Tổng thanh tra Lầu Năm Góc, đây là hệ thống vũ khí đắt đỏ nhất
trong lịch sử, loại máy bay này hiện gặp phải 719 vẩn đề kỹ thuật. Quả thực đó là quá nhiều vấn
đề đối với một hệ thống vũ khí trị giá gần 200 triệu USD cho mỗi chiếc (ở một vài phiên bản khác
là gần 300 triệu USD mỗi chiếc). Phần lớn tương lai của Lầu Năm Góc ở châu Á tập trung vào “Không Hải chiến”, một kế hoạch
chung hợp nhất giữa Lực lượng Hải-Không quân của Mỹ ra mắt vào năm 2010 với mục tiêu cụ
thể là ngăn chặn các quốc gia thù địch tiếp cận hải phận và không phận của khu vực Thái Bình
Dương. Lục quân, về cơ bản cảm thấy rằng mình đã bị gạt ra ngoài, cũng đã đề xuất sáng kiến
“Các tuyến đường Thái Bình Dương” (Pacific Pathways) của riêng mình, với mục đích là chuyển
đổi một lực lượng chủ yếu trên đất liền thành một lực lượng viễn chinh hàng hải có khả năng cạnh tranh trực tiếp với Lực lượng Lính thủy đánh bộ. Tuy nhiên, các đồng minh của Washington tại Thái Bình Dương không nên quá trông đợi vào kế
hoạch này. Chương trình này quả thực không nhiều hơn một nỗ lực ngăn chặn hao tổn binh lực
trong Lục quân, dự kiến sẽ cắt giảm 10% quân số hiện có trong vài năm tới – cùng với những
dấu hiệu về sự thu hẹp nhiều hơn trước mắt. Nhà khoa học chính trị Andrew Bacevich viết rằng:
“Các tuyến đường Thái Bình Dương hình dung ra các yếu tố tương đối nhỏ loanh quanh vùng
Viễn Đông để bất kể điều gì xảy ra, cho dù là hành động của Chúa hay hành động của kẻ ác, quân chủng này sẽ không bị lãng quên”. Mặc dù “sự xoay trục” này có thể không mang nhiều ý nghĩa, có một điều chắc chắn đó là: kế
hoạch này sẽ rất tốn kém, ngay cả khi các đồng minh đóng góp vào chăng nữa. Chẳng hạn, việc
mở rộng căn cứ quân sự Guam hiện giờ ước tính khoảng 8,6 tỷ USD (hoặc nhiều hơn), với chỉ
khoảng 3 tỷ USD do Nhật Bản đóng góp. Theo như Lầu Năm Góc ước tính, tổng chi phí cho việc
tái bố trí lực lượng lính thủy đánh bộ có thể lên tới 12 tỷ USD. Và theo ước tính của Văn phòng
Trách nhiệm Chính phủ, con số này chắc chắn vẫn còn quá thấp, chỉ riêng phí tổn di dời đến Guam cũng đã gấp đôi con số này. Do vậy, không có gì đáng ngạc nhiên khi Thượng Viện – trên
tinh thần nhất trí lưỡng đảng bất thường, đã chỉ trích chi phí tốn kém này. Sự thật đơn giản là Lầu Năm Góc sẽ không còn có đủ của cải để mà vung vãi như trong thập kỷ
vừa qua. Nếu chỉ riêng phí tổn di dời các lực lượng ở khu vực Thái Bình Dương cũng đã tốn kém
như vậy thì khoản kinh phí cho các triển khai mới sẽ rất khó lòng được Quốc Hội thông qua. Và
đó là chưa kể đến việc công chúng Nhật Bản, Hàn Quốc, và Australia sẽ chống đối các sắc thuế
cần thiết khi họ phải bắt đầu thanh toán “phần đóng góp” của chính mình. Tại sao là châu Á? Tại sao là lúc này? Ngay cả nếu “sự xoay trục” sang khu vực Thái Bình Dương là nhiều hỏa mù hơn hỏa lực, Mỹ
cũng khó có thể là một con hổ giấy ở châu Á. Cho đến giờ, Mỹ vẫn là bên tham gia quân sự hùng
mạnh nhất ở khu vực này. Với các tàu sân bay, tàu khu trục, máy bay chiến đấu và tàu ngầm
nguyên tử, tất cả đều có nghĩa rằng Mỹ có thể chứng tỏ sức mạnh của mình bất cứ khi nào cần
thiết.. Nhưng nhận thức cũng đóng một vai trò quan trọng trong địa chính trị và hiện giờ Trung Quốc
đang thắng thế trong trò chơi nhận thức. Bắc Kinh có của cải dồi dào và đã sử dụng đáng kể
thặng dư ngoại tệ của mình để lôi kéo các quốc gia trong khu vực (ngay cả khi Trung Quốc làm
giảm bớt một phần trong thiện chí đó với các tuyên bố lãnh thổ và hành động quân sự của nước
này). Vào năm 2010, Trung Quốc đã hợp tác với các nước láng giềng Đông Nam Á của mình để
thiết lập một khu vực thương mại tự do đủ lớn nhằm cạnh tranh với châu Âu và Bắc Mỹ một cách thuận lợi. Mặc dù Trung Quốc sẽ không có khả năng triển khai sức mạnh của mình ngay cả là có thể so
sánh được với Mỹ trong tương lai có thể thấy trước, chi tiêu quân sự 2 con số trong suốt thập kỷ
qua đã giúp Trung Quốc thu hẹp khoảng cách với Nhật Bản và Hàn Quốc. Tình hình căng thẳng
tại khu vực này đã gia tăng – xoay quanh các tranh chấp về các quần đảo giữa Nhật Bản và
Trung Quốc, xung quanh vùng Biển Hoa Nam (Biển Đông) giàu tiềm năng dầu mỏ, và cả trong
không phận sau khi Trung Quốc đơn phương thiết lập “Vùng nhận dạng phòng không” (ADIZ) của mình vào tháng 11/2013, bao trùm cả quần đảo tranh chấp Senkaku/Điếu Ngư. Hành động phô trương sức mạnh của Trung Quốc vẫn là yếu tố duy nhất có thể biến “sự xoay
trục” sang khu vực Thái Bình Dương trở thành hiện thực. Nhiều quốc gia đã từng có thái độ nước
đôi với sự hiện diện quân sự của Mỹ – chẳng hạn như Việt Nam hay Philippines – giờ đây đang
sẵn sàng trải thảm nghênh đón các lực lượng quân sự Mỹ. Nhật Bản hiện đang lấy cớ “mối nguy
cơ Trung Quốc” để làm ngơ “hiến pháp hòa bình” và tăng cường hợp tác với Lầu Năm Góc. Và Mỹ
cũng đang háo hức khớp nối các mối quan hệ song phương khác nhau của mình từ Ấn Độ đến Australia và Hàn Quốc – thành một tấm áo choàng để kiềm chế sự trỗi dậy của Trung Quốc. Ngay cả khi chẳng mấy thực chất, sự tái bố trí lực lượng ở Thái Bình Dương cho tới nay có tác
dụng bởi các bên tham gia khác nhau nhận thấy rằng sự tái bố trí này là hữu ích để có thể tin
tưởng. Đối với Trung Quốc, thực tế này đem lại một lý do căn bản thuận lợi để mua hoặc xây
dựng các hệ thống vũ khí mới nhằm ngăn chặn Mỹ kiểm soát hoàn toàn không phận và hải
phận. Đối với các đồng minh của Mỹ, “sự xoay trục” này đem lại một chính sách bảo hiểm mà nó
đòi hỏi các nước này phải trả phí bảo hiểm dưới hình thức tăng cường quân đội của chính mình. Ở Mỹ, các thành phần diều hâu đang hoan hỉ với sự trở lại châu Á giống như Rambo, trong khi
các thành phần bồ câu lại than phiền về chủ nghĩa quân phiệt cố hữu của chính sách mới. Lầu
Năm Góc đang có thêm cơ hội lựa chọn căn cứ mới; các công ty sản xuất vũ khí có khả năng
kiếm được các hợp đồng béo bở; các tập đoàn khác của Mỹ cũng nhìn thấy nhiều cơ hội tiếp cận
lớn hơn vào các thị trường nước ngoài qua thông qua TPP. Tuy nhiên, một thực tế quan trọng ở châu Á cũng cần được lưu ý khi xem xét việc Washington
đang ngày càng tập trung vào khu vực Thái Bình Dương cũng như các lợi ích ở khu vực này: kể
từ khi Chiến tranh Thế giới lần thứ Hai kết thúc, Mỹ chưa bao giờ có thể áp đặt ý muốn của mình
lên khu vực này. Mỹ đã lâm vào thế bế tắc trong cuộc chiến tranh Triều Tiên; đã thất bại trong cuộc
chiến tranh Việt Nam; cũng không thể ngăn ngừa Triều Tiên sở hữu vũ khí hạt nhân. Mỹ thậm
chí cũng không thể ngăn cản việc hai đồng minh là Nhật Bản và Hàn Quốc tranh cãi về quyền sở
hữu các hải đảo nhỏ bé giữa hai quốc gia. Và quan hệ kinh tế của Mỹ với Trung Quốc – một sự
cùng phụ thuộc dựa trên sản xuất thái quá và tiêu thụ thái quá – là một sự kiềm hãm đối với
chủ nghĩa đơn phương của Mỹ trong khu vực. Trong thời đại của chính sách kinh tế thắt lưng buộc bụng và hợp tác về mặt chính sách với
Trung Quốc, “sự xoay trục” sang Thái Bình Dương chẳng khác gì một điệu nhảy phức tạp mà ở
đó Mỹ lùi về phía sau trong khi đẩy những đồng minh của mình về phía trước. Đó có thể dường
như là lối xử sự khôn vặt trong việc chia sẻ gánh nặng an ninh, nhưng sự tái bố trí lực lượng này
vẫn tốn kém một cách ghê gớm… Và việc “châu Á hóa” Thái Bình Dương thông qua xuất khẩu vũ
khí và các thỏa thuận thăm viếng chẳng khác gì đổ thêm dầu vào lửa trong cuộc chạy đua vũ trang quan trọng nhất trên thế giới hiện nay. Chiếc tàu sân bay ì ạch được biết đến như là nước Mỳ nên thực hiện một “sự xoay trục” đúng
như cái tên của nó: một sự chuyển dịch từ chủ trương quân sự sang tinh thần ưa chuộng hòa
bình. Thay vào đó, Mỹ chỉ làm xáo trộn mọi thứ và để lại đàng sau sự bất ổn.