Thứ Ba, 29 tháng 7, 2014

MĨ - CAMBODIA - TRUNG QUỐC VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG TỪ MỐI QUAN HỆ NÀY

MĨ - CAMBODIA - TRUNG QUỐC
VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG TỪ MỐI QUAN HỆ NÀY
TS. TRẦN XUÂN HIỆP
Đại học Duy Tân - Đà Nẵng


1. Giới thiệu
Trong giai đoạn hiện nay, tình hình thế giới và khu vực có nhiều biến chuyển phức tạp, bên cạnh xu hướng hòa bình hợp tác, vẫn còn xảy ra những xung đột căng thẳng, tiềm ẩn những nguy cơ bất ổn. Thế giới đang ngày càng hội nhập sâu hơn trong sự phát triển đa chiều, trong khi đó, tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương hay Đông Nam Á vẫn tồn tại và ngày càng xuất hiện nhiều thách thức, nhất là sự hiện diện và tranh giành ảnh hưởng của các nước lớn. Một mặt, làm cho quan hệ các nước trong khu vực, trong đó có quan hệ Cambodia - Việt Nam xích lại gần nhau để đối phó với
2. Cambodia trong quan hệ với Mĩ
Đông Nam Á từ rất sớm đã là địa bàn tranh giành ảnh hưởng của các nước lớn. Từ thời cận đại, cường quốc phương Tây đã từng bước xâm nhập vào khu vực đầy tiềm năng này. Đến thời hiện đại, các nước thực dân cũ và mới tăng cường sự hiện diện và xâm lược. Hiện nay, khi Đông Nam Á đang trở thành khu vực phát triển năng động của thế giới thì nơi đây lại trở thành địa bàn chiến lược quan trọng để các nước thực thi những toan tính mang tính toàn cầu. Cambodia nằm ở vị trí trung tâm của Đông Nam Á, cùng với Việt Nam, Lào hình thành cửa ngõ án ngữ con đường xuyên Á. Đặc biệt, Cambodia trở thành “con bài” để các nước thực hiện ý đồ lôi kéo quốc gia này vào vòng kiềm tỏa và làm bàn đạp để thực hiện việc mở rộng ảnh hưởng kinh tế - chính trị lên toàn bộ khu vực. Có thể khẳng định vị thế chiến lược của Đông Nam Á nói chung và của Cambodia nói riêng trong chính sách đối ngoại của các nước lớn là một điểm nhấn cần được quan tâm.
Trong tình hình thế giới hiện nay, khi quá trình hội nhập ngày càng được xúc tiến nhanh, ngoại giao đa phương ngày càng giữ vị trí quan trọng, góp phần nâng cao vị thế mỗi nước trên trường quốc tế. Ý thức được vấn đề này, Cambodia thực hiện đường lối đối ngoại, hòa bình, độc lập tự chủ, hữu nghị với cộng đồng các quốc gia, dân tộc. Một mặt phát huy nội lực, mặt khác tận dụng lợi thế quốc tế để đẩy nhanh quá trình đổi mới xây dựng đất nước. Với lí do đó, Cambodia đã tích cực tham gia vào các tổ chức khu vực và quốc tế: Liên hiệp quốc (UN), Tổ chức thương mại thế giới (WTO), Phong trào các quốc gia không liên kết, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN)… Ngoài ra, cùng với các nước Đông Nam Á khác, Cambodia còn tham gia đề xuất và là thành viên của các tổ chức tiểu khu vực như: Tam giác phát triển Cambodia - Việt Nam - Lào, Hợp tác Tiểu vùng sông Mekong mở rộng (GMS), Hợp tác bốn nước Cambodia - Lào - Việt Nam - Myanmar (CLVM), Tổ chức chiến lược hợp tác kinh tế Ayeyarwady - Chao Phraya - Mekong (ACMECS). Những hợp tác đa phương này một mặt đã củng cố, nâng cao vị thế của Cambodia, tạo ra thế cơ động linh hoạt trong quan hệ quốc tế, có lợi cho việc bảo vệ độc lập tự chủ cũng như công cuộc xây dựng đất nước. Mặt khác, quá trình hợp tác đa phương cũng tạo cơ hội cho Cambodia có thêm tiếng nói cùng những cam kết chung trong việc giải quyết các vấn đề toàn cầu và khu vực, qua đó, tăng cường hơn nữa vai trò quốc gia trên trường quốc tế.
Hiện nay, việc tăng cường vai trò ảnh hưởng cùng với những toan tính chính trị của các nước lớn đang làm gia tăng những mối lo ngại cho quan hệ song phương và đa phương giữa các quốc gia trong khu vực. Bên cạnh việc tạo ra “luồng gió mới” thúc đẩy nền kinh tế các nước Đông Nam Á phát triển mạnh hơn, thì mặt trái của vấn đề là làm cho nhiều quốc gia trong khu vực buộc phải chịu sự chi phối rất lớn từ các nước này. Cambodia, một trong những quốc gia chậm phát triển nhất khu vực lại là nước chịu nhiều tác động chi phối từ bên ngoài, nhất là của các nước phương Tây, Mĩ, Trung Quốc. Điều này lại tác động rất lớn đến việc hoạch định và thực thi chiến lược ngoại giao của Cambodia, cũng như ảnh hưởng không nhỏ đến quan hệ Cambodia với các nước trong khu vực.
Với Mĩ, từ lâu châu Á - Thái Bình Dương đã trở thành địa bàn chiến lược không thể từ bỏ trong chính sách ngoại giao toàn cầu của mình. Trong Báo cáo chiến lược Đông Á năm 1998 nêu rõ chiến lược an ninh khu vực châu Á - Thái Bình Dương, khẳng định Mĩ sẽ tiếp tục duy trì sự hiện diện ở vùng tiền tuyến châu Á - Thái Bình Dương, coi đó như là “một nhân tố cơ bản trong bố trí lực lượng của Mĩ”. Đây là một trong những yếu tố giúp Mĩ có thể phản ứng nhanh đối với những khủng hoảng mang tính toàn cầu, ngăn chặn sự phát sinh của chủ nghĩa bá quyền khu vực, tăng cường ảnh hưởng tại khu vực. Từ những mục tiêu đề ra như trên, Mĩ tiếp tục duy trì những mối liên hệ chính thức và phi chính thức đối với khu vực này. Riêng Đông Nam Á: “Lợi ích chiến lược của Mĩ ở Đông Nam Á là tập trung vào việc phát triển các quan hệ kinh tế, an ninh song phương và khu vực, hỗ trợ ngăn chặn và giải quyết xung đột, tăng cường sự tham gia vào tiến trình phát triển kinh tế của khu vực” [8].
Đối với Cambodia, Mĩ đặc biệt coi trọng tầm quan trọng của quốc gia này trong chiến lược tiếp cận khu vực. Do đó, “nếu nhìn nhận Cambodia như một thành viên đầy đủ của ASEAN - một đối tác kinh tế lớn của Mĩ thì mối quan hệ song phương này giữ một vai trò quan trọng trong việc giúp Mĩ duy trì sự dính líu toàn diện với ASEAN nhằm đảm bảo tiếp cận với khu vực thị trường quan trọng này, một việc làm ngày càng khó khăn đối với các quốc gia ngoài khu vực như Mĩ” [6, tr 26]. Qua đó, có thể khẳng định Vương quốc Cambodia có tầm quan trọng trong chiến lược khu vực của Mĩ, đặc biệt là ý đồ đưa ASEAN vào khu vực ảnh hưởng của Mĩ. Washington cũng đã thành lập nhóm “Những người bạn của Cambodia” nhằm tạo ra sự ủng hộ quốc tế đối với chính sách “can thiệp linh hoạt” của ASEAN. Trọng tâm chính sách đối ngoại của Mĩ đối với Cambodia là tập trung vào việc giữ cho đất nước này hòa bình, ổn định, dân chủ và phát triển. Quan trọng hơn là không để Cambodia rơi vào “ốc đảo” của bất cứ một quốc gia nào trong khu vực.
Về kinh tế, Cambodia hoàn toàn dựa vào viện trợ quốc tế. Nguồn viện trợ này chiếm hơn một nửa ngân sách nhà nước. Mĩ là nước viện trợ cho Cambodia lớn thứ ba sau Nhật Bản và Australia. Năm 1992, Mĩ xóa bỏ lệnh cấm vận đối với Cambodia và thực hiện bình thường hóa quan hệ với nước này. Đồng thời, Mĩ cho phép các công ti Mĩ kí hợp đồng mở văn phòng đại diện, kí Hiệp định thương mại với Cambodia. Năm 1996, Tổng thống Clinton đã kí đạo luật chính thức cho Cambodia hưởng quy chế tối huệ quốc (MFN), một điều hiếm thấy đối với bất cứ một quốc gia nào trên thế giới. Mĩ cũng kêu gọi các tổ chức tài chính quốc tế (international financial organizations) và ngân hàng thế giới (WB) viện trợ cho Cambodia [4, tr.17].Đồng thời, Cambodia và Mĩ đã kí thỏa thuận song phương 3 năm về lĩnh vực công nghiệp dệt may (ngày 21-1-1997), đem lại một hạn ngạch xuất khẩu cho Cambodia gồm 12 loại sản phẩm trong lĩnh vực chủ lực này. Điều đó tạo ra động lực quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội của Cambodia, đặc biệt là đối với ngành dệt may - một ngành kinh tế mũi nhọn.Trong thời gian 5 năm (1998 - 2001), Mĩ là thị trường lớn nhất đối với Cambodia và giá trị xuất khẩu hàng hóa từ Cambodia sang Mĩ ngày càng tăng trong giai đoạn này
Như vậy, quan hệ với Mĩ, Cambodia đã và đang được hưởng nhiều lợi ích, đặc biệt là thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế, có nhiều viện trợ từ bên ngoài, tạo điều kiện cho Cambodia mở rộng quan hệ đa phương và song phương. Tuy nhiên, hiện nay dù có nhiều nước vượt Mĩ trong việc cải thiện quan hệ với Cambodia, nhưng do có sự phụ thuộc nhất định hoặc có quan hệ chặt chẽ với Mĩ nên mức độ quan hệ với Cambodia của họ phải dựa vào những động thái của Mĩ. Chính điều này đã ảnh hưởng rất lớn đến chính sách đối nội cũng như đối ngoại của Cambodia, nhất là trong điều kiện đấu tranh giữa các phe phái chính trị tại Cambodia vẫn chưa chấm dứt, họ thường lấy yếu tố bên ngoài để gây áp lực với chính phủ lãnh đạo hiện tại, do đó ảnh hưởng trực tiếp đến quan hệ ngoại giao Cambodia với các nước trong khu vực, trong đó có quan hệ Cambodia - Việt Nam.
3. Cambodia trong quan hệ với Trung Quốc
Với Trung Quốc, sự phụ thuộc và chịu ảnh hưởng từ quốc gia này đối với Cambodia lại càng lớn hơn khi mà Trung Quốc đang trỗi dậy và thực thi chính sách ngoại giao nước lớn tại khu vực. Chính sách đối ngoại của Trung Quốc đối với châu Á - Thái Bình Dương là tạo lập môi trường hòa bình, ổn định nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho những nỗ lực phát triển và củng cố nội lực Trung Quốc, bởi môi trường bên ngoài là một trong hai yếu tố cơ bản để Trung Quốc thực hiện thành công công cuộc cải cách và mở cửa. Vì vậy, mở rộng hợp tác với các nước trong khu vực có ý nghĩa lớn đối với mục tiêu đối ngoại “nước lớn có trách nhiệm” của Trung Quốc, thông qua những phản ứng với cuộc khủng hoảng tài chính châu Á 1997, viện trợ và hợp tác kinh tế, đề xuất sáng kiến về “an ninh mới” mà hạt nhân của khái niệm mới này bao gồm sự tin tưởng lẫn nhau, các bên cùng có lợi, bình đẳng và hợp tác.
Hiện tại, Trung Quốc là nước có ảnh hưởng rất lớn ở Cambodia. Trung Quốc liên tục duy trì ảnh hưởng của mình tại đây bằng việc ủng hộ Chính phủ Liên hiệp và tăng cường quan hệ với Đảng Nhân dân Cambodia (CPP) do Thủ tướng Samdech Hunsen đứng đầu. Hành động này chứng tỏ ý đồ của Trung Quốc là muốn lôi kéo Cambodia đi vào quỹ đạo của mình, chi phối giới lãnh đạo Cambodia và buộc Cambodia phải phụ thuộc vào Bắc Kinh. Trong khi Mĩ đang cố gắng thực hiện nhiều biện pháp nhằm lôi kéo Cambodia, thì Trung Quốc đã triển khai các khoản viện trợ để giành ảnh hưởng tại đây. Cuối năm 2000, Trung Quốc thông qua chiến lược “Tây tiến” hướng mũi “tấn công” sang đến các tỉnh phía Tây Nam Trung Quốc. Theo đó, Trung Quốc tăng cường viện trợ và đầu tư vào lưu vực sông Mekong. Cũng nằm trong chiến lược này, Bắc Kinh tuyên bố xóa khoản nợ 1 tỉ USD cho Cambodia. Từ năm 2002 trở đi, Trung Quốc quyết định giảm hoặc miễn thuế cho 600 mặt hàng từ ba nước Cambodia, Lào và Myanmar [3].Rõ ràng, quyết định này của Bắc Kinh nhằm mục tiêu cải thiện quan hệ song phương với Cambodia - một điều vốn không dễ dàng bởi lâu nay Trung Quốc chẳng mặn mà gì với chính quyền ở Phnom Penh.
Kể từ năm 2005, Trung Quốc đã cấp khoảng 600 triệu USD viện trợ về kinh tế cho Cambodia, chủ yếu là để xây dựng đường sá, cầu cống và đập thủy điện. Năm 2008, chính phủ Trung Quốc cam kết giúp điện khí hóa khu vực nông thôn của Cambodia với khoản đầu tư 1 tỉ USD vào dự án xây 2 công trình thủy điện, khai thác quặng mỏ trị giá khoảng 2 tỉ USD. Hiện nay có hơn 3000 công ti của Trung Quốc đang làm ăn tại Cambodia [2, tr.7].Giai đoạn 2003 - 2007, Trung Quốc liên tục là nhà đầu tư số một vào Cambodia. Tháng 12-2006, đã có hơn 230 doanh nghiệp Trung Quốc đầu tư vào Cambodia, tập trung trong các lĩnh vực may mặc, điện lực, khoáng sản, khách sạn… Để xúc tiến thương mại, Chính phủ Trung Quốc có chính sách khuyến khích xuất khẩu hàng hóa sang Cambodia và đồng thời cũng tạo điều kiện cho Cambodia xuất khẩu hàng hóa sang Trung Quốc. Đến nay, Trung Quốc đã miễn giảm với thuế suất bằng 0% cho 48 mặt hàng của Cambodia xuất khẩu sang Trung Quốc [3].Hiện nay, mối quan hệ giữa Cambodia với Trung Quốc được hai bên quan tâm và đã nâng quan hệ từ “Đối tác tin cậy” lên “Đối tác chiến lược toàn diện”. Đầu tư của Trung Quốc vào Camphuchia khoảng 8 tỉ USD, Trung Quốc đã cung cấp cho Cambodia những khoản tài trợ không hoàn lại cùng với những khoản cho vay trị giá hơn 2 tỉ USD và là nước tài trợ nhiều nhất cho Cambodia. Thực tế đó cho thấyvai trò và sự ảnh hưởng kinh tế của Trung Quốc tại đất nước Chùa Tháp là không hề nhỏ.
4. Những tác động từ mối quan hệ Trung Quốc - Cambodia - Mĩ
Như vậy, quan hệ hợp tác giữa Trung Quốc - Cambodia, Mĩ - Cambodia đã trực tiếp hay gián tiếp tác động rất lớn đến nền ngoại giao của Cambodia. Sự cạnh tranh giữa các nước lớn tại địa bàn này là một thách thức không nhỏ đối với chính quyền Cambodia. Nhiều nhà lãnh đạo cho rằng Trung Quốc có quan hệ chặt chẽ với Cambodia hơn Mĩ. Một ví dụ là “sự hợp tác của Hunsen đối với những sáng kiến chống khủng bố của Mĩ lại phụ thuộc vào nỗ lực của Chính phủ Cambodia trong việc tăng cường đầu tư và thương mại của Trung Quốc. Mặc dù Mĩ cố gắng làm trệch nền ngoại giao thương mại của Trung Quốc, song Bắc Kinh liên tục vạch ra những biện pháp thống nhất về mặt kinh tế và văn hóa với Cambodia, kể cả việc thông qua các nhà thầu có thế lực người Trung Quốc. Hiện nay tại Cambodia số người nói tiếng Anh giảm so với số người nói tiếng Trung Quốc. Cambodia là nước có trường dạy tiếng Trung Quốc lớn nhất khu vực Đông Nam Á với hơn 8000 học sinh” [1, tr.9].Tóm lại, sự cạnh tranh giữa Mĩ và Trung Quốc cũng như chính sách ngoại giao toàn cầu của hai nước lớn này ảnh hưởng sâu sắc không chỉ đối với nền kinh tế Cambodia, mà còn tác động rất lớn đến việc đưa ra chính sách đối ngoại của Cambodia trong thời gian qua và những năm tiếp theo.
Có thể nói, “hơn bất kì quốc gia Đông Nam Á nào, Cambodia tự thấy mình đang bị kẹp giữa nước Mĩ đang cạnh tranh và những đề nghị ngoại giao của Trung Quốc. Với việc Washington đưa ra những sáng kiến chiến lược song phương và sự giúp đỡ đầy hào phóng về tài chính của Bắc Kinh, Thủ tướng Cambodia Hunsen đã khéo léo cân bằng nền ngoại giao của mình giữa hai siêu cường nhằm mang lại lợi thế chính trị cho đất nước” [7].
Đồng thời, Cambodia ưu tiên phát triển kinh tế đối ngoại với phương Tây, Mĩ, Trung Quốc, Nhật Bản nên cũng khó khăn trong thúc đẩy quan hệ kinh tế với Việt Nam. Chẳng hạn, Tập đoàn dầu khí Việt Nam đã tiếp cận với Cambodia từ năm 2004 về khả năng hợp tác thăm dò khai thác dầu khí nhưng Cambodia vẫn tỏ ra thờ ơ trong khi lại kí kết các hợp đồng hợp tác với các công ti của Mĩ và Trung Quốc. Cụ thể, công ti Dầu mỏ Thần Châu (Trung Quốc) đã giành được quyền thăm dò khai thác dầu khí ở lô D với diện tích 360km2 biển Cambodia và theo kết quả thăm dò công bố tháng 4-2007 lô D có trữ lượng 226 triệu 880 nghìn thùng dầu và 140,5 triệu m3 khí đốt. Thần Châu đã trở thành công ti sở hữu lô D kế tiếp sau công ti Chevron của Mĩ (lô A), công ti Dầu khí Hải Dương (Trung Quốc) cũng giành được quyền thăm dò khai thác lô F. Một thực tế nữa là “Trong lúc ngoài biển Đông, Trung Quốc làm cho các nước trong khu vực, đặc biệt là Philippin và Việt Nam lo ngại […] thì trên bộ, sát biên giới phía Tây của Việt Nam, Trung Quốc lại từng bước tiến hành chiến lược nắm quyền chi phối các nước từng nằm trong vòng ảnh hưởng của Việt Nam là Lào và Cambodia. Ngoài lợi ích trong thương mại và khai thác tài nguyên, Trung Quốc đến Cambodia vì mục tiêu chiến lược. Do tranh chấp với Việt Nam trên vùng biển Đông giàu dầu khí, Trung Quốc muốn Cambodia trở thành một quốc gia phục tùng Trung Quốc, Trung Quốc coi Cambodia như một vành đai an ninh trong vùng”[7]. Với những tuyên bố và hành động đang thực hiện, thì xu hướng tiến xuống Tây Nam của Trung Quốc dần hiện hữu, quá trình “lấy lòng” các nước trong khu vực và “phô trương” sức mạnh khổng lồ đang thực sự trở thành “mối đe dọa” đối với tất cả các nước, làm ảnh hưởng sâu sắc tới các mối quan hệ song phương, đa phương tại khu vực, quan hệ Cambodia - Việt Nam cũng không nằm ngoài tác động đó.
5. Nhận xét
Trong quan hệ Mĩ và Trung Quốc với Cambodia, việc thực thi các chính sách ngoại giao tại quốc gia Đông Nam Á này nằm trong một phần chiến lược toàn cầu của hai cường quốc tại khu vực. Trung Quốc với lợi thế về địa lí, lịch sử và văn hóa đã và đang có những lợi thế nhất định trong quan hệ với Cambodia so với Mĩ. Tuy nhiên, lợi thế đó của Trung Quốc có phần giảm sút do chính sách ngoại giao nước lớn đã làm cho các quốc gia trong khu vực cảm thấy bị đe dọa và có nhiều biện pháp phòng bị. Bên cạnh đó, cũng cần thấy rằng sự hiện diện của Mĩ tại khu vực được các nước Đông Nam Á coi trọng nếu không nói là rất cần thiết. Điều này làm cho lực lượng giữa các cường quốc được cân bằng, đặc biệt sự quay trở lại châu Á - Thái Bình Dương với tuyên bố bảo vệ đồng minh và không đánh mất vai trò tại biển Đông của Mĩ đã làm cho Trung Quốc phải dè chừng và trấn an các nước trong khu vực về một biện pháp cứng rắn nhằm gìn giữ hòa bình - an ninh tại khu vực. Cambodia, thực thể không thể tách rời của Đông Nam Á, một địa bàn chiến lược để các nước lớn xâm nhập và lôi kéo trở thành mắt xích vô cùng quan trọng tại khu vực. Việc Mĩ và Trung Quốc tăng cường vai trò ảnh hưởng tại Cambodia không nằm ngoài chiến lược đưa Đông Nam Á vào vòng kiềm tỏa của các cường quốc này.
Mối quan hệ giữa Cambodia với các nước lớn, đặc biệt là Mĩ và Trung Quốc đã đem lại những tác động đa chiều. Một mặt, làm cho nền kinh tế Cambodia ngày càng phát triển và tạo ra vị thế ngày càng lớn của Cambodia trên trường quốc tế. Bắt tay hợp tác với Mĩ và Trung Quốc, Cambodia chứng tỏ được bản lĩnh và nội lực của quốc gia dân tộc, phù hợp với xu thế quốc tế hóa, khu vực hóa và chính sách đa phương trong quan hệ quốc tế hiện nay. Tuy nhiên, mặt tiêu cực của vấn đề mang lại là không hề nhỏ, đây là mối quan hệ giữa những cường quốc phát triển với một quốc gia nhỏ đang phát triển, vì thế cái giá phải trả cũng cần được tính đến. Sự ràng buộc và phụ thuộc về mặt kinh tế lẫn chính trị vào Mĩ và Trung Quốc là quá rõ ràng, những chính sách đối ngoại mà chính quyền Phnom Penh đưa ra đều luôn phải xem xét động thái từ Mĩ và Trung Quốc. Nếu mối quan hệ thực sự tốt đẹp thì cái lợi là rất lớn, nhưng nếu ngược lại thì cũng khó lường. Trong khi đó, tham vọng và sự tranh giành ảnh hưởng tại khu vực này của Mĩ và Trung Quốc ngày càng quyết liệt thì Cambodia, một nước được coi là “con bài chiến lược” trong quá trình lôi kéo, thâm nhập vào khu vực của các cường quốc càng trở nên nguy hiểm bởi tính hai mặt: lợi ích và nguy cơ từ mối quan hệ tay đôi, phải làm thế nào cân bằng được lực lượng giữa các nước, không làm mất lòng ai mà cũng không quá phụ thuộc vào ai.
Nhân tố Mĩ và Trung Quốc có ảnh hưởng trái chiều, cả tích cực lẫn tiêu cực đến quan hệ Cambodia - Việt Nam. Một mặt, có tác dụng thúc đẩy quan hệ Cambodia - Việt Nam phát triển hơn nữa nhằm đối phó với sự áp đặt thách thức từ các nước lớn, mặt khác làm cho quan hệ Cambodia - Việt Nam trở nên khó khăn phức tạp do Cambodia phụ thuộc quá nhiều vào bên ngoài. Những chính sách đối nội hay đối ngoại của chính quyền Phnom Penh đều chịu một phần sự chi phối của các nước lớn không chỉ đơn thuần về kinh tế mà cả chính trị, nhất là Mĩ và Trung Quốc. Điều đó càng làm phức tạp thêm tình hình chính trị nội tại và là thách thức lớn trong việc hoạch định chiến lược ngoại giao của Cambodia; qua đó, gián tiếp ảnh hưởng tới quan hệ Cambodia với các nước trong khu vực nói chung, cũng như quan hệ Cambodia - Việt Nam nói riêng. Vì vậy, ưu tiên đẩy mạnh quan hệ hợp tác Việt Nam - Cambodia trong bối cảnh quốc tế mới với sự hiện diện ngày càng mạnh mẽ của các nước lớn trong khu vực là vấn đề không thể xem nhẹ

Xung đột tôn giáo nhìn từ góc độ quan hệ quốc tế


Lịch sử nhân loại bị vò xéo bởi xung đột và bạo lực. Khi chiến tranh Lạnh kết thúc, niềm tin về một nền hoà bình vĩnh cửu như mơ ước của Immanuel Kant đã sống lại. Thế nhưng, niềm tin này đã nhanh chóng bị lung lay. Vô số cuộc xung đột đã xảy ra, nhiều cuộc chiến tranh đã bùng nổ, máu tiếp tục chảy, bạo lực tiếp tục được sử dụng trong quan hệ quốc tế. Con người đánh nhau không chỉ vì miếng ăn, của cải và đất đai mà còn vì các giá trị tinh thần. Dường như trong xã hội loài người nói chung, trong quan hệ quốc tế nói riêng, xung đột và bạo lực là không tránh khỏi.

Trong số này, xung đột tôn giáo được coi là một trong nguồn tiềm tàng của xung đột quốc tế. Xung đột tôn giáo liên quan đến các giá trị tinh thần và niềm tin tuyệt đối. Đó là những sản phẩm của nhận thức nên có thể thay đổi được. Vì thế, có người cho rằng, xung đột tôn giáo không có tính tất yếu. Họ lấy thực tế không có chiến tranh tôn giáo trong vài thế kỉ gần đây để chứng minh cho quan điểm này. Những người phản đối lại lập luận rằng, tôn giáo là một phần tất yếu của xã hội loài người và dù thực tế có đứt đoạn song xung đột tôn giáo vẫn hiện diện trong mọi thời kì. Và như vậy, xung đột tôn giáo luôn là một phần của cuộc sống.

Những người theo quan điểm sau đang cố gắng tìm kiếm sự ủng hộ về lí thuyết và thực tiễn. Về lí thuyết, đó là quan điểm nổi tiếng gần đây của Samuel Huntington. Ông cho rằng, thế giới hậu chiến tranh Lạnh đang bước vào thời kì "đụng độ giữa các nền văn minh" và sự phân chia thế giới lớn nhất sẽ dọc theo các chiến tuyến văn hoá. Tôn giáo là một phần của văn hoá nên không đứng ngoài xu thế này. Xung đột giá trị tinh thần vẫn tiếp diễn bất chấp sự phổ biến các giá trị chung nhân loại trong thời đại toàn cầu hoá. Sự nổi lên gần đây của các phong trào tôn giáo chính thống được coi như minh chứng thực tiễn cho lập luận này.

Vậy xung đột tôn giáo có phải là tất yếu hay không? Xác định bản chất và nguyên nhân của hiện tượng sẽ giúp trả lời câu hỏi đó. Việc tìm hiểu vấn đề này có ý nghĩa nhất định đối với việc củng cố hoà bình và giữ gìn các giá trị văn hoá.

Do tính phức tạp của hiện tượng này cũng như khuôn khổ có hạn của một bài viết, chúng tôi chỉ đề cập đến các nguyên nhân cơ bản và chung nhất trong xung đột tôn giáo. Ngoài ra, vấn đề này cũng được tập trung xem xét từ một trong các góc độ nghiên cứu - góc độ quan hệ quốc tế. Nói cách khác, đối tượng nghiên cứu của bài này giới hạn trong các xung đột tôn giáo có tính quốc tế.

Bản chất tôn giáo không phải là xung đột và bạo lực. Bản chất tôn giáo thể hiện trên hai phương diện chính là nguyên nhân ra đời và tinh thần giáo lí. Nguyên nhân ra đời phản ánh cơ sở tồn tại và phát triển. Giáo lí chứa đựng mục đích và con đường, nhận thức và hành vi, nội dung và phương tiện.

Tôn giáo xuất hiện rất sớm từ thời thượng cổ như một phần không thể thiếu trong đời sống tâm linh. Trong các cộng đồng cổ đại, đều tồn tại những tín ngưỡng hay tôn giáo bản địa. Đã có nhiều công trình đề cập đến nguyên nhân ra đời của tôn giáo. Các kết quả nghiên cứu đều không cho thấy xung đột tôn giáo được bắt đầu cùng với sự ra đời của tôn giáo. Theo chúng tôi, một trong những lí do ra đời của tôn giáo chính là nhằm đáp ứng nhu cầu an ninh của con người. Con người cần niềm tin và sức mạnh tinh thần trước quá nhiều hiểm hoạ đe doạ sự tồn tại của mình. Tôn giáo ra đời không phải là sự phản ứng bằng bạo lực trước những đe doạ đó. Xuất phát điểm của các tôn giáo đều bắt đầu bằng con đường phi bạo lực. Đa phần quá trình tôn giáo đều diễn ra một cách hoà bình. Xung đột tôn giáo xuất hiện muộn hơn và không liên quan đến nguyên nhân hình thành tôn giáo. Đây đó có những xung đột bạo lực xảy ra xung quanh thời điểm ra đời của tôn giáo nhưng thường là do tôn giáo hoặc bị lợi dụng, hoặc là nạn nhân của bạo lực. Trong chừng mực nào đó, tôn giáo ra đời như sự "cứu rỗi" con người trước thực tiễn quá nhiều đau khổ vì xung đột.

Tôn giáo là phong trào tinh thần với các mục đích hoà bình. Hầu hết các tôn giáo đều hướng con người tới một thế giới siêu nhiên mà ở đó không có xung đột và bạo lực. Trên phương diện giáo lí, không tôn giáo nào khuyến khích xung đột và chủ trương giải quyết xung đột bằng bạo lực. Tinh thần này được phản ánh cả trong nội dung lẫn phương cách thực hiện. Tôn giáo dạy con người phải biết tha thứ và thương yêu nhau - một khái niệm khác với mâu thuẫn và hằn thù vốn là cơ sở của xung đột. Điều quan trọng, tôn giáo hướng con người tới lòng nhân ái - một quan điểm và thái độ cần thiết để ngăn chặn và giải quyết xung đột. Tôn giáo cũng có thái độ phi đấu tranh khi khuyên con người phải biết chấp nhận thực tại. Tôn giáo cũng không chủ trương phổ biến các giá trị và niềm tin của mình bằng công cụ bạo lực như quân đội và vũ khí. Tôn giáo phát triển được qua biên giới chủ yếu nhờ những giá trị nhân bản đáp ứng được nhu cầu tâm lí chung của con người. Thái độ phi bạo lực của tôn giáo đã đem lại sức sống cho nó trong các cộng đồng vốn luôn bị đè nặng bởi xung đột và bạo lực.

Xung đột tôn giáo không xuất phát từ bản chất tôn giáo. Vậy nguyên nhân nào khiến xung đột tôn giáo vẫn xảy ra trong lịch sử?

Thứ nhất, sự đa dạng tôn giáo chứa đựng tiềm năng xung đột. Các tôn giáo thường có thế giới quan và nhân sinh quan khác nhau. Đó là cơ sở tạo nên những hệ thống giá trị tinh thần, quan niệm đạo đức và các niềm tin tuyệt đối khác nhau giữa các tôn giáo. Một hệ thống giá trị và niềm tin như vậy thường khiến tín đồ đặt trọn lòng tin vào tôn giáo đó. Đó là tâm lí độc quyền tôn giáo và thái độ phủ nhận tôn giáo khác. Tín điều tôn giáo thường được coi là thiêng liêng nên dễ nhạy cảm với giáo lí và quan niệm của tôn giáo khác. Những tín điều không phù hợp với tôn giáo đó dễ bị coi là báng bổ và từ đó làm nảy sinh bất đồng tôn giáo. Tôn giáo dễ trở thành nguồn xung đột chính bởi sự đa dạng tôn giáo. ít nhất, đa dạng tôn giáo cũng góp phần tạo thêm ranh giới trong một thế giới vốn đã khá chia rẽ với sự hình thành những cộng đồng tôn giáo và lãnh địa tinh thần riêng. Nguy cơ xung đột này càng tăng lên bởi xu hướng bành trướng của nhiều tôn giáo. Sự cạnh tranh giáo dân và lãnh địa nhiều khi trở thành nguyên nhân xung đột trực tiếp giữa các tôn giáo.

Thực tế cũng cho thấy điều này: Xung đột tôn giáo nhiều nhất trong lịch sử là giữa các cộng đồng tôn giáo khác nhau. Các cuộc chiến tranh tôn giáo lớn nhất cũng chủ yếu xảy ra giữa các tôn giáo khác nhau. Điển hình là cuộc xung đột giữa Công giáo và Hồi giáo với các cuộc Thập tự chinh kéo dài gần 200 năm từ cuối thế kỉ XI đến cuối thế kỉ XIII. Xung đột kéo dài giữa hai tôn giáo này còn được phản ánh qua các cuộc chiến tranh giữa Đế quốc Ottoman với các quốc gia Châu Âu thời kì hiện đại. Việc đàn áp "dị giáo" ở Châu Âu thời Trung cổ bên cạnh nguyên nhân chính trị, cũng có nguyên nhân tâm lí độc quyền tôn giáo. Ngày nay, xung đột giữa những tôn giáo khác nhau vẫn đang tiếp tục như Hồi giáo - Công giáo ở Nagornui Karabak, Sudan và Philippines; Hồi giáo - Ấn Độ giáo ở Nam á, Chính Thống giáo - Hồi giáo ở Serbia,v.v… Tôn giáo là một yếu tố làm tăng thêm tính quốc tế trong các xung đột này.

Mặc dù thực tế trên là phổ biến song theo chúng tôi, không có mối liên hệ tất yếu giữa tôn giáo - tâm lí độc tôn - xung đột tôn giáo. Không một tôn giáo nào ra đời để nhằm chinh phục một tôn giáo khác. Không phải tôn giáo nào cũng có xu hướng độc tôn. Trong chừng mực nào đó, mặc dù có những cách giải thích trần thế khác nhau, tôn giáo phần nào là sự chấp nhận thực tế. Hơn nữa, về bản chất, tôn giáo là sự bổ sung những giá trị tinh thần mới cho cuộc sống thực tại chứ không nhằm thay thế nó. Chấp nhận thực tế cũng có nghĩa là chấp nhận thực tế tồn tại của các tôn giáo khác. Tính chấp nhận này còn thể hiện ở sự tiếp thu giá trị của các tôn giáo khác. Ba tôn giáo thế giới hiện nay đều là những ví dụ điển hình của mối quan hệ tiếp biến này. Đó là chưa kể tới những điểm chung trong nội dung giáo lí của các tôn giáo đã từng xung đột với nhau. Nhiều xung đột mang màu sắc tôn giáo thực ra xuất phát chủ yếu từ xung đột giữa các cộng đồng văn hoá khác nhau mà tôn giáo chỉ là một trong số đó. Mặc dù xu hướng độc tôn tôn giáo là có thể, song sự chuyển biến thành thái độ kì thị và xung đột tôn giáo lại xuất phát từ một số người thực hành tôn giáo chứ không phải từ bản chất tinh thần tôn giáo. Tinh thần tha thứ và lòng nhân ái đã góp phần ngăn cản xu hướng độc tôn bằng con đường bạo lực.

Thứ hai, trong nhiều tôn giáo lớn thường có các giáo phái khác nhau. Sự phân chia này hoặc do những bất đồng giáo lí (Công giáo với Chính Thống giáo và Tin Lành), mâu thuẫn về địa vị và tổ chức (Sunni, Shi’ite hay Harijit của Hồi giáo) hoặc sự phân nhánh và biến đổi qua quá trình địa phương hoá (Tiểu thừa, Đại thừa và các giáo phái nhỏ hơn của Phật giáo). Sự bất nhất dẫn đến bất đồng, bất đồng dẫn đến mâu thuẫn, mâu thuẫn tạo ra xung đột. Bên cạnh đó, cùng với sự phát triển của tôn giáo là sự xuất hiện yếu tố chính trị trong tôn giáo do chi phối của môi trường kinh tế - chính trị - xã hội và sự tác động của yêu cầu tổ chức. Sự tranh chấp địa vị trung tâm giữa các giáo phái đã góp thêm nguyên nhân phi tôn giáo vào kiểu dạng xung đột tôn giáo này.

Xung đột cao có thể dẫn đến li khai tôn giáo và điều này lại càng "đổ thêm dầu vào lửa", nhiều khi biến xung đột tôn giáo thành các cuộc chiến tranh tôn giáo. Kitô giáo là một ví dụ điển hình. Cuộc li khai đầu tiên dẫn đến sự hình thành Chính Thống giáo (Othodoxism) trong thời gian 974-984, hình thành nên giáo hội Phương Đông mới ở Nam Âu. Cuộc li khai thứ hai là của đạo Tin Lành (Protestantism) trong thế kỉ XVI. Sự li khai này dẫn đến cuộc xung đột tôn giáo có thể là đẫm máu nhất trong lịch sử tôn giáo. Nhiều vụ thảm sát và chiến tranh giữa hai tôn giáo này đã nổ ra như cuộc tàn sát giết chết khoảng 8.000 người Tin Lành ở St.Bartholomew năm 1572, các cuộc chiến tranh tôn giáo trong thời kì 1560-1590 hay cuộc chiến tranh 30 năm 1618-1648,v.v… Cuộc li khai thứ ba là Anh giáo tách ra khỏi Giáo hội Công giáo năm 1543. Sự li khai này dẫn đến việc vua Philip II của Tây Ban Nha bảo hộ Công giáo đã phái hạm đội Armanda đến đánh nước Anh dưới thời Nữ hoàng Elizabeth I. Dấu vết của cuộc xung đột Công giáo - Tin Lành hiện nay vẫn phản ánh ít nhiều ở Bắc Ai Len. Những xung đột giáo phái tương tự cũng diễn ra trong Hồi giáo dưới thời Đế quốc Ả Rập, hay gần đây là xung đột Sunni-Shi’ite. Ngày nay, dù đã giảm đi, giáo phái vẫn tiếp tục là nguồn tạo ra những vấn đề trong quan hệ quốc tế. Điển hình là những chia rẽ mới từ sự nổi lên của các giáo phái chính thống trong một số tôn giáo.

Cũng như nguyên nhân từ sự đa dạng tôn giáo, hiện tượng đa giáo phái không có mối liên hệ bản chất với xung đột tôn giáo. Về mặt lí thuyết, giữa các giáo phái có nhiều điểm chung hơn nên khả năng thoả hiệp giải quyết xung đột là lớn hơn. Về mặt thực tiễn, xung đột giáo phái chỉ xảy ra giữa thiểu số các giáo phái, số lượng giáo phái không tham gia xung đột là lớn hơn nhiều. Các giáo phái Công giáo vẫn đa dạng nhưng đang cùng nhau hợp tác dưới sự lãnh đạo của Vatican. Tương tự như vậy, các giáo phái Phật giáo cũng đang cùng tồn tại hoà bình. Ngày nay, dấu vết của những mâu thuẫn giáo phái vẫn còn tồn tại ít nhiều, nhất là trong Hồi giáo nhưng khả năng dẫn đến xung đột bạo lực ngày càng hạn chế. Các tôn giáo đều đang cố gắng xây dựng và duy trì sự thống nhất cả về nội dung lẫn hình thức. Hầu hết các tôn giáo lớn đều có tổ chức toàn cầu của mình dù khả năng điều phối thực tế là rất khác nhau. Đó là chưa kể tình cảm cộng đồng tự nhiên xuất phát từ cùng cội nguồn tôn giáo của các tín đồ thuộc những giáo phái khác nhau. Tình cảm chống Mỹ trong thế giới Hồi giáo sau các sự kiện Afghanistan và Iraq vừa qua là một minh chứng cho điều này.

Thứ ba, tôn giáo được coi là nguồn của xung đột còn bởi những liên hệ về mặt giá trị với các nguyên nhân xung đột khác, đặc biệt là xung đột lãnh thổ và sắc tộc. Trong quá trình phát triển, nhiều giá trị tôn giáo đã kết hợp với những yếu tố bản địa, trở thành bộ phận không tách rời trong hệ thống giá trị cộng đồng và góp phần tạo nên bản sắc cộng đồng. Trong chừng mực nào đó, tôn giáo đóng vai trò như một sợi dây liên kết cộng đồng nên dần dần chúng hoà trộn với các giá trị quốc gia, dân tộc. Bởi mối liên hệ như vậy và với tư cách là giá trị cộng đồng, tôn giáo thường dễ bị lôi kéo vào trong các xung đột lãnh thổ hay sắc tộc nhằm kích thích chủ nghĩa quốc gia, chủ nghĩa dân tộc. Điều này đôi khi tạo nên suy nghĩ cho rằng đây là xung đột tôn giáo.

Thực tế cho thấy có nhiều xung đột về lãnh thổ và sắc tộc thường mang đậm màu sắc tôn giáo. Màu sắc này đậm đến nỗi sự phân chia tôn giáo dường như là một chiến tuyến giữa các nhóm đối địch. Trong cuộc xung đột Ấn Độ-Pakistan, hầu hết người Ấn Độ theo Ấn Độ giáo (Hinduism) và hầu hết người Pakistan theo Hồi giáo. Trong cuộc xung đột Nagornui - Karabak, người Azerbaijan là Hồi giáo, còn người Armernia là Công giáo. Trong khi đó, xung đột ở Sudan lại xảy ra giữa người gốc Ả Rập theo Hồi giáo và người gốc Phi theo Công giáo. Tương tự như vậy, cuộc chiến tranh Iran - Iraq (1980-1988) cũng được coi là phản ánh mâu thuẫn giáo phái Shi’itee - Sunni. Trong các cuộc xung đột ở Nam Tư, tình hình tôn giáo còn phức tạp hơn. Người Croat là Công giáo, người Serb là Chính Thống giáo còn hầu hết người Albania là Hồi giáo. Đây là mẫu hình khá phổ biến trong nhiều xung đột sắc tộc và lãnh thổ. Không chỉ vậy, tôn giáo còn được sử dụng để kích động các cuộc xung đột quyền lực, lãnh thổ hay sắc tộc. Trong cuộc chiến giành Vukova giữa người Croat và người Serb, các biểu tượng tôn giáo đã được đem ra trận nhằm kích thích thêm lòng căm thù đối phương. Sức mạnh tinh thần của tôn giáo với tư cách là giá trị cộng đồng, đôi khi còn lấn át cả yếu tố sắc tộc. Những người Serb theo Hồi giáo ở Bosnia đã sẵn sàng liên minh với người Croat để chống lại những "anh em chung một dòng máu" là người Serb theo Chính Thống giáo.

Trong các xung đột kiểu này, tôn giáo không đóng vai trò chính như lãnh thổ hay sắc tộc. Mức độ liên kết quốc gia hay nhóm sắc tộc thường cao hơn nhóm tôn giáo nên lợi ích lãnh thổ hay sắc tộc cũng lớn hơn. Mâu thuẫn tôn giáo chỉ là mâu thuẫn phụ. Trong trường hợp ở Bosnia nói trên, lãnh thổ là nguyên nhân xung đột chính chứ không phải là tôn giáo. Khi các xung đột lãnh thổ và sắc tộc được giải quyết, xung đột kiểu này cũng lắng xuống bất kể mâu thuẫn tôn giáo vẫn còn. Tuy nhiên, sự hoà trộn như vậy lại làm cho xung đột tôn giáo trở nên sâu sắc, khó giải quyết hơn và dễ trở thành vấn đề giữa các quốc gia - dân tộc.

Rồi đây, những bất đồng văn hoá/tôn giáo và việc giữ gìn bản sắc vẫn tiếp tục là vấn đề trong quan hệ quốc tế. Nhưng do tôn giáo không còn chi phối chính quyền như trước kia nên khó có lợi ích tôn giáo nào được đặt lên trên lợi ích quốc gia. Trong tình hình phần lớn quốc gia là đa tôn giáo, lợi ích của các tôn giáo chỉ là lợi ích nhóm nên càng khó bị lôi kéo vào xung đột liên quốc gia. Trong quan hệ quốc tế ngày nay, lợi ích chính trị và kinh tế vẫn chiếm địa vị ưu tiên nên nhiều khi đã góp phần kiềm chế các xung đột tinh thần. So với trước kia, xung đột kiểu này đã trở nên ít hơn và cũng ít ảnh hưởng đến quan hệ quốc tế hơn. Chúng thường chỉ xảy ra bên trong quốc gia hoặc với các quốc gia có quốc giáo. Xu thế này chứng tỏ sự tương tác giữa giá trị tôn giáo và xung đột quốc tế không phải là tất yếu.

Thứ tư, đó là mâu thuẫn giữa tôn giáo và thế tục. Thực ra, bản chất của mâu thuẫn này cũng gần giống mâu thuẫn trong quan niệm và niềm tin giữa các tôn giáo khác nhau. Về mặt nào đó, tôn giáo ra đời nhằm cải biến thực tại theo quan niệm và cách thức riêng của mình. Trong khi đó, thực tế lại đa dạng và phức tạp hơn nhiều những gì tôn giáo quan niệm. Vì thế, bất đồng về quan niệm, trái ngược về niềm tin là khó tránh khỏi. Xung đột tôn giáo - thế tục hiện diện khá nhiều trong lịch sử và được thể hiện trên nhiều khía cạnh đời sống khác nhau như chính trị, xã hội và văn hoá. Chính vì mâu thuẫn này mà các tôn giáo khi mới ra đời đều gặp không ít khó khăn để có được chỗ đứng trong đời sống cộng đồng. Nhiều tôn giáo hoặc bị coi là bất hợp pháp hoặc thậm chí bị đàn áp như Công giáo chẳng hạn. Để tồn tại, nhiều tôn giáo phải dựa vào bạo lực. Xung đột tôn giáo - thế tục càng gay gắt. Tuy nhiên, loại xung đột này không đơn thuần chỉ xuất phát từ các tôn giáo mà còn cả từ phía chính quyền thế tục. Khi thần quyền nắm chính quyền, đó có thể là sự phân biệt đối xử hoặc sự kì thị tôn giáo khác. Những cuộc đàn áp "dị giáo" ở Châu Âu thời Trung cổ là trường hợp như vậy. Trong trường hợp chính quyền thế tục, đó có thể là sự phân biệt đối xử lương giáo hoặc nỗi lo ngại chính trị hoá tôn giáo. Sự bài bác về văn hoá, địa vị xã hội lương giáo khác nhau, cấm đạo hoặc đàn áp tôn giáo là những hiện tượng của vấn đề này. Những xung đột liên quan đến tôn giáo này thường hay được quy vào phạm trù xung đột tôn giáo.

Hiện nay, tầm ảnh hưởng của mâu thuẫn này trong quan hệ quốc tế vẫn là đáng kể. Đáng chú ý là sự nổi lên của các phong trào chính thống trong vài thập kỉ gần đây. Sự nổi lên của các phong trào chính thống diễn ra cả trong Hồi giáo, Công giáo, Do Thái giáo (Judaism) và Ấn Độ giáo. Xu hướng chủ yếu của các phong trào này là mong muốn trở về các giá trị ban đầu của tôn giáo. Những người chính thống phản kháng các hệ thống giá trị bên ngoài. Họ thường có thái độ cực đoan đối với một số giá trị nào đó của đời sống thế tục mà họ cho là ngược với quan điểm của họ. Điều này nhiều khi đã dẫn đến sự đụng độ với các tổ chức chính trị thế tục. Những người chính thống Do Thái phản đối hòa bình với Palestine và chủ trương xây dựng các khu định cư trong các vùng lãnh thổ bị Israel chiếm đóng. Những người Công giáo chính thống ở Mỹ cố gắng thuyết phục chính phủ rút khỏi Quỹ Dân số Liên Hiệp Quốc (UNFPA) vì họ cho rằng quỹ này khuyến khích nạo phá thai. Phong trào chính thống nổi bật hơn cả là trong Hồi giáo bắt đầu nổi lên từ cuộc Cách mạng Iran năm 1979. Những người chính thống Hồi giáo muốn kinh Coran trở thành hiến pháp quốc gia. Họ phản đối các giá trị thế tục Phương Tây và cho đó là sự suy đồi đạo đức.

Việc quy kết cho các mâu thuẫn loại này vào xung đột tôn giáo có thể không hoàn toàn chính xác. Các xung đột thường đa nguyên nhân mà tôn giáo chỉ là một. Ví dụ, tâm lí chống Phương Tây của những người Hồi giáo chính thống không chỉ phản ánh mâu thuẫn giữa tư tưởng tôn giáo truyền thống với các giá trị thế tục ngoại lai mà còn xuất phát từ mâu thuẫn lịch sử giữa người dân bản địa với chủ nghĩa thực dân Phương Tây, giữa người Ả Rập và người Do Thái và giữa những bất đồng chính trị với chính quyền đương nhiệm.

Xung đột này đang ngày càng giảm đi. Về phía tôn giáo, đó là những cải biến theo tinh thần nhập thế đang tăng lên và sự tiếp tục ý nghĩa bổ sung cho thực tiễn. Điển hình là những thay đổi mạnh mẽ của Công giáo thể hiện trong Công đồng Vatican II. Về phía thế tục, trên bình diện quốc tế, đó là quá trình công nhận tự do tôn giáo được chính thức hoá trong Hiệp định hoà bình Oliva năm 1660, được nhắc lại trong Bốn Quyền Tự do của Roosevelt năm 1941 và được Uỷ ban Nhân quyền của Liên Hiệp Quốc khẳng định trong thời gian 1955-1960. Trên bình diện quốc gia, quyền tự do tôn giáo đã được hầu hết các quốc gia tuân thủ. Hơn nữa, bước sang thế kỉ XX, quá trình thế tục hoá nhà nước đã phổ biến trên toàn cầu. Điều này góp phần phân định chức năng rạch ròi hơn giữa tôn giáo và chính quyền. Thực tế này đang cho thấy sự không thực sự vững chắc trong quan điểm của Samuel Huntington.

Thứ năm, rất nhiều xung đột tôn giáo xảy ra do liên quan đến chính trị. Trong lịch sử tôn giáo, sự liên quan với chính trị đã đem lại cả nguyên nhân lẫn điều kiện cho xung đột tôn giáo. Là điều kiện khi chính trị được tôn giáo sử dụng để phát huy thế lực và ảnh hưởng. Là nguyên nhân khi chính trị sử dụng tôn giáo để thực hiện mục tiêu của mình. Mâu thuẫn tôn giáo được chính trị tiếp sức đã bị trầm trọng thêm. Ngược lại, mâu thuẫn chính trị đi cùng tôn giáo lại tạo nên xung đột tôn giáo.

Công giáo và Hồi giáo là những trường hợp điển hình của sự kết hợp tôn giáo với chính trị. Công giáo được "chính trị hoá" từ dưới lên với đỉnh cao là sự thành lập Đế quốc La Mã thế kỉ IX. Trong khi đó, Hồi giáo lại là quá trình ngược lại từ trên xuống với việc hình thành Đế quốc Ả Rập thế kỉ VII. Chính nhờ quyền lực chính trị của các đế chế mà hai tôn giáo này đã bành trướng rất nhanh. Ngược lại, các thế lực chính trị cũng sử dụng tôn giáo như công cụ thống trị tư tưởng và ràng buộc những phần khác nhau của đế quốc. Sự lợi dụng tôn giáo cho các mục đích chính trị cũng góp phần làm tăng xung đột tôn giáo. Cuộc chiến tranh Ba mươi năm (1618-1648) là một ví dụ. Đây là cuộc chiến tranh giữa các quốc gia theo Tin Lành và Công giáo được nhiều người coi là cuộc chiến tranh tôn giáo điển hình. Nhưng thực tế, việc Pháp là quốc gia theo Công giáo lại đứng về phe Tin Lành chống lại các quốc gia Công giáo khác cho thấy cuộc chiến tranh này không hoàn toàn vì mục đích tôn giáo. Đây là cuộc chiến tranh giành quyền lực bá chủ giữa Pháp và Tây Ban Nha. Tương tự như vậy, trong thời kì Đế quốc La Mã và Đế quốc Ả Rập, xung đột tôn giáo diễn ra rất nhiều ở các khu vực này. Mối liên kết chính trị - tôn giáo là nguồn của xung đột còn phản ánh rõ nét trong quá trình truyền bá Công giáo sang Phương Đông. Sự đụng độ với các tôn giáo bản địa không chỉ do gốc văn hoá khác nhau mà còn bởi sự truyền đạo này liên quan ít nhiều đến chủ nghĩa thực dân và sự xâm lược thuộc địa.

Vậy tôn giáo có bản chất chính trị hay không? Nếu có thì đây sẽ là nguồn tiềm tàng của xung đột tôn giáo? Theo chúng tôi, giữa tôn giáo và chính trị có sự liên quan nhưng không mang tính bản chất. Chính trị ít nhiều được phản ánh trong hệ thống nhân sinh quan và thế giới quan của một số tôn giáo nhưng không phải tất cả. Trong khi đó, thực tế phi chính trị của hầu hết tôn giáo ngày nay càng cho thấy chính trị không phải là một phần tất yếu của tôn giáo. Hơn nữa, kể cả có sự liên kết chính trị - tôn giáo mạnh mẽ thì mối quan hệ đó cũng không nhất thiết là nguy cơ của xung đột. Rất nhiều quốc gia - quốc giáo yêu chuộng hoà bình. Ở đây, cần có sự phân biệt giữa tôn giáo với những tư tưởng chính trị mang màu sắc tôn giáo. Đối với các tư tưởng này, chính trị là mục tiêu chính trị, còn tôn giáo chỉ là phương tiện. Đôi khi sự liên kết giữa chính trị với tôn giáo dễ tạo sự lầm tưởng tôn giáo là nguyên nhân của xung đột

Cũng có ý kiến cho rằng, chính trị mới giúp cho một số tôn giáo trở thành tôn giáo thế giới. Các tôn giáo này truyền bá vượt qua khuôn khổ văn hoá và biên giới chính trị bởi vì chúng mang trong mình những giá trị tự thân như đề cao giá trị nhân loại và tình thương yêu đồng loại trên toàn thế giới. Chính sự nhấn mạnh vào các giá trị cá nhân và giá trị toàn cầu khiến cho các tôn giáo này có khả năng thẩm thấu qua biên giới. Quá trình quốc tế hoá quan hệ xã hội đã tiếp sức cho sự truyền bá này. Chính trị đơn giản chỉ là một trong số công cụ truyền bá tôn giáo mà thôi.

Như vậy, xung đột tôn giáo không xuất phát từ bản chất tôn giáo. Xung đột tôn giáo còn xảy ra bởi các nguyên nhân phi tôn giáo. Vì thế, coi xung đột tôn giáo là nguồn tiềm tàng của chiến tranh và bạo lực thì không hẳn như vậy. Đa phần các tôn giáo là hoà bình. ở nhiều nơi, các tôn giáo cùng tồn tại bên nhau, tiếp thu lẫn nhau hoặc thâm nhập vào nhau. Tín đồ của các nhóm tôn giáo khác nhau đã chung sống một cách hoà bình. Thực tế, hoà bình tôn giáo phổ biến hơn nhiều so với xung đột tôn giáo.

Cùng với sự phát triển của quan hệ quốc tế, xung đột tôn giáo ngày càng dễ trở thành vấn đề trong quan hệ giữa các quốc gia. Tuy nhiên, xung đột tôn giáo đang có xu hướng giảm. Xung đột tôn giáo giảm nhiều so với lịch sử cả về số lượng, quy mô lẫn tác động xã hội. Nhiều người đang nói đến sự nổi lên của xung đột tôn giáo sau chiến tranh Lạnh. Cần công bằng hơn với tôn giáo trong nhận định này khi rất nhiều xung đột trong số đó không xuất phát từ mâu thuẫn tôn giáo. Thậm chí, trong không ít trường hợp, chính tôn giáo lại là nạn nhân chứ không phải là nguyên nhân của xung đột.

Các nhận định này chắc chắn sẽ dễ được chấp nhận hơn khi khái niệm xung đột tôn giáo được xem xét lại. Chính vì quy tất cả xung đột có liên quan đến tôn giáo vào chung một khái niệm mà đã tồn tại cái nhìn tương đối bi quan về hiện tượng xã hội này. Điều này góp phần tạo nên suy nghĩ xung đột tôn giáo là cái gì đó thường trực trong xã hội loài người. Khái niệm này chỉ nên bao gồm những xung đột trong đó mâu thuẫn tôn giáo là động lực chủ yếu với các lực lượng tôn giáo là chủ thể chính. Sự phân biệt giữa các xung đột tôn giáo này với những xung đột trong đó tôn giáo chỉ là dấu hiệu hình thức là rất cần thiết. Một sự chia tách như vậy không chỉ giúp có cái nhìn đúng hơn về tôn giáo và xung đột tôn giáo mà còn là cơ sở để xây dựng biện pháp giải quyết xung đột thích hợp cho từng trường hợp cụ thể./.

TS. Hoàng Khắc Nam

Bí mật “động trời” cuộc đụng độ Mỹ-Xô trong Chiến tranh thế giới thứ 2


Trong tháng 11/1944 đã xảy ra một cuộc đụng độ quân sự lớn giữa Mỹ-Xô trên khu vực lãnh thổ Nam Tư cũ (Serbia ngày nay) khiến cho Hồng quân chịu tổn thất lớn.
>> 60 năm sau kết thúc chiến tranh thế giới II: Vẫn cần cảnh giác
Trong những năm Chiến tranh thế giới thứ 2, Mỹ và Liên Xô ở trên cùng một chiến tuyến trong cuộc chiến chống lại Đức quốc xã. Tuy nhiên, ít ai biết rằng 2 siêu cường này đã từng đứng trước nguy cơ xảy ra chiến tranh tổng lực vào năm 1944 khi cả hai bên bị hút vào một cuộc đụng độ quân sự lớn ở Nam Tư.

Cuộc đụng độ này hầu như không được nhắc đến mãi đến khi cuốn hồi ký “Từ độ cao thấp” của anh hùng phi công Nikolai Shmelev được công bố vào năm 1966 người ta mới biết đến cuộc chạm trán quân sự này.
Bi mat dong troi cuoc dung do MyXo trong Chien tranh the gioi thu 2
Khu vực nơi xảy ra cuộc không chiến Mỹ - Xô.

Sau khi Liên Xô giúp Nam Tư giải phóng khỏi sự chiếm đóng của Đức quốc xã. Một thỏa thuận giữa 2 nước cho phép Quân đoàn không quân số 17 của Hồng quân Liên Xô được sử dụng bất kỳ sân bay nào ở Nam Tư trong đó có sân bay tại thành phố Nis, đổi lại Liên Xô sẽ giúp Nam Tư huấn luyện phi công sử dụng máy bay Yak-3 và IL-2.

Ngày 7/11/1944, đội cảnh giới của Quân đoàn tự vệ số 6 Hồng quân Liên Xô đóng ở phía Bắc thành phố Nis, Nam Tư đã phát hiện một nhóm máy bay lạ đang tiến vào thành phố. Tuy nhiên, Không quân Liên Xô đã chậm trễ trong việc cho máy bay cất cánh để tìm hiểu phi đội máy bay lạ này.
Tổng cộng có khoảng 30 máy bay đã bất ngờ ném bom vào bộ chỉ huy quân đoàn đóng tại đây. Đợt tấn công bất ngờ này đã làm 31 binh sĩ và một sĩ quan Hồng quân thiệt mạng cùng 37 người khác bị thương.
Bi mat dong troi cuoc dung do MyXo trong Chien tranh the gioi thu 2
Máy bay ném bom B-25 đã tham gia các vụ không kích vào Hồng quân Liên Xô.

Một lúc sau đó phi đội 9 máy bay chiến đấu Yak-3 mới được lệnh cất cánh, nhóm máy bay lạ đã nổ súng tấn công. Một chiếc Yak-3 đã bị trúng đạn vào khung và rơi xuống. Bị bất ngờ trước cuộc tấn công nhưng điều càng bất ngờ hơn là các phi công Liên Xô nhận ra những chiếc máy bay sơn màu đen vốn có của Đức quốc xã lại mang ngôi sao màu trắng của Không quân Mỹ.

Thậm chí một số phi công còn nhìn thấy rõ biểu tượng thường thấy của chiếc máy bay chiến đấu P-38 Lighting. Nhóm máy bay gồm có máy bay ném bom B-25 được hộ tống bởi máy bay chiến đấu P-38 Lighting. Phi đội Yak-3 đang có mặt trên không trung đã được lệnh nghênh chiến.
Bi mat dong troi cuoc dung do MyXo trong Chien tranh the gioi thu 2
Tiêm kích Yak-3.
Một cuộc chạm trán ác liệt đã diễn ra trên không, 7 máy bay của Mỹ trong đó có 5 máy bay P-38 và 2 máy bay B-25 đã bị bắn hạ, 14 phi công thiệt mạng. Phía Liên Xô cũng mất 3 máy bay trong cuộc không chiến này.

Nữa giờ sau đó, một nhóm máy bay khác của Không quân Mỹ đã tấn công một đoàn xe quân sự của Hồng quân đang đi qua khu vực thành phố Nis giết chết 12 binh lính và sĩ quan. Sau sự cố này đã xảy ra một vu bê bối ngoại giao lớn giữa Mỹ-Xô.

Phía Mỹ đã chủ động xin lỗi về cuộc tấn công này và thừa nhận đó là một sai lầm, họ đã không đưa ra lý do tại sao lại có cuộc tấn công nhầm lẫn này. Nhưng Mỹ cũng phàn nàn rằng Liên Xô đã bắn hạ các máy bay của họ và làm 14 phi công thiệt mạng. Tuy nhiên, cuộc đụng độ quân sự này đã nhanh chóng chìm vào quên lãng khi 2 nước tập trung một nguồn lực cho cuộc chiến tiêu diệt Đức quốc xã vào năm 1945.
Bi mat dong troi cuoc dung do My - Xo trong Chien tranh the gioi thu 2
Mỹ mất 5 chiếc P-38.
Trong cuộc đụng độ chớp nhoáng này, phía Liên Xô chịu nhiều thiệt hại về nhân mạng trên mặt đất nhưng lại dành được chiến thắng trong cuộc không chiến. Những chiếc Yak-3 đã chứng minh sự nhanh nhẹn của mình so với những chiếc P-38 của Mỹ.

VietBao.vn (Theo Kiến Thức)

Hình ảnh: Bí mật “động trời” cuộc đụng độ Mỹ-Xô trong Chiến tranh thế giới thứ 2

Trong tháng 11/1944 đã xảy ra một cuộc đụng độ quân sự lớn giữa Mỹ-Xô trên khu vực lãnh thổ Nam Tư cũ (Serbia ngày nay) khiến cho Hồng quân chịu tổn thất lớn.   
>> 60 năm sau kết thúc chiến tranh thế giới II: Vẫn cần cảnh giác
Trong những năm Chiến tranh thế giới thứ 2, Mỹ và Liên Xô ở trên cùng một chiến tuyến trong cuộc chiến chống lại Đức quốc xã. Tuy nhiên, ít ai biết rằng 2 siêu cường này đã từng đứng trước nguy cơ xảy ra chiến tranh tổng lực vào năm 1944 khi cả hai bên bị hút vào một cuộc đụng độ quân sự lớn ở Nam Tư.

Cuộc đụng độ này hầu như không được nhắc đến mãi đến khi cuốn hồi ký “Từ độ cao thấp” của anh hùng phi công Nikolai Shmelev được công bố vào năm 1966 người ta mới biết đến cuộc chạm trán quân sự này.
Bi mat dong troi cuoc dung do MyXo trong Chien tranh the gioi thu 2
 Khu vực nơi xảy ra cuộc không chiến Mỹ - Xô.

Sau khi Liên Xô giúp Nam Tư giải phóng khỏi sự chiếm đóng của Đức quốc xã. Một thỏa thuận giữa 2 nước cho phép Quân đoàn không quân số 17 của Hồng quân Liên Xô được sử dụng bất kỳ sân bay nào ở Nam Tư trong đó có sân bay tại thành phố Nis, đổi lại Liên Xô sẽ giúp Nam Tư huấn luyện phi công sử dụng máy bay Yak-3 và IL-2.

Ngày 7/11/1944, đội cảnh giới của Quân đoàn tự vệ số 6 Hồng quân Liên Xô đóng ở phía Bắc thành phố Nis, Nam Tư đã phát hiện một nhóm máy bay lạ đang tiến vào thành phố. Tuy nhiên, Không quân Liên Xô đã chậm trễ trong việc cho máy bay cất cánh để tìm hiểu phi đội máy bay lạ này.
Tổng cộng có khoảng 30 máy bay đã bất ngờ ném bom vào bộ chỉ huy quân đoàn đóng tại đây. Đợt tấn công bất ngờ này đã làm 31 binh sĩ và một sĩ quan Hồng quân thiệt mạng cùng 37 người khác bị thương.
Bi mat dong troi cuoc dung do MyXo trong Chien tranh the gioi thu 2
 Máy bay ném bom B-25 đã tham gia các vụ không kích vào Hồng quân Liên Xô.

Một lúc sau đó phi đội 9 máy bay chiến đấu Yak-3 mới được lệnh cất cánh, nhóm máy bay lạ đã nổ súng tấn công. Một chiếc Yak-3 đã bị trúng đạn vào khung và rơi xuống. Bị bất ngờ trước cuộc tấn công nhưng điều càng bất ngờ hơn là các phi công Liên Xô nhận ra những chiếc máy bay sơn màu đen vốn có của Đức quốc xã lại mang ngôi sao màu trắng của Không quân Mỹ.

Thậm chí một số phi công còn nhìn thấy rõ biểu tượng thường thấy của chiếc máy bay chiến đấu P-38 Lighting. Nhóm máy bay gồm có máy bay ném bom B-25 được hộ tống bởi máy bay chiến đấu P-38 Lighting. Phi đội Yak-3 đang có mặt trên không trung đã được lệnh nghênh chiến.
Bi mat dong troi cuoc dung do MyXo trong Chien tranh the gioi thu 2
Tiêm kích Yak-3.
Một cuộc chạm trán ác liệt đã diễn ra trên không, 7 máy bay của Mỹ trong đó có 5 máy bay P-38 và 2 máy bay B-25 đã bị bắn hạ, 14 phi công thiệt mạng. Phía Liên Xô cũng mất 3 máy bay trong cuộc không chiến này.

Nữa giờ sau đó, một nhóm máy bay khác của Không quân Mỹ đã tấn công một đoàn xe quân sự của Hồng quân đang đi qua khu vực thành phố Nis giết chết 12 binh lính và sĩ quan. Sau sự cố này đã xảy ra một vu bê bối ngoại giao lớn giữa Mỹ-Xô.

Phía Mỹ đã chủ động xin lỗi về cuộc tấn công này và thừa nhận đó là một sai lầm, họ đã không đưa ra lý do tại sao lại có cuộc tấn công nhầm lẫn này. Nhưng Mỹ cũng phàn nàn rằng Liên Xô đã bắn hạ các máy bay của họ và làm 14 phi công thiệt mạng. Tuy nhiên, cuộc đụng độ quân sự này đã nhanh chóng chìm vào quên lãng khi 2 nước tập trung một nguồn lực cho cuộc chiến tiêu diệt Đức quốc xã vào năm 1945.
Bi mat dong troi cuoc dung do My - Xo trong Chien tranh the gioi thu 2
 Mỹ mất 5 chiếc P-38.
Trong cuộc đụng độ chớp nhoáng này, phía Liên Xô chịu nhiều thiệt hại về nhân mạng trên mặt đất nhưng lại dành được chiến thắng trong cuộc không chiến. Những chiếc Yak-3 đã chứng minh sự nhanh nhẹn của mình so với những chiếc P-38 của Mỹ.

VietBao.vn (Theo Kiến Thức)

Mỹ, phương Tây hết thời khống chế tài chính thế giới?

Khối nhóm nước BRICS đang nỗ lực thoát ly khỏi hệ thống tài chính Mỹ và phương Tây. Thậm chí BRICS còn tham vọng khống chế nền tài chính thế giới trong nay mai.

Ngân hàng Phát triển mới (NBD) của nhóm nước BRICS (Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc và Nam Phi) vừa được thành lập tại Brazil. Với số vốn ban đầu là 50 tỉ USD và dự trữ ngoại tệ lến đến 100 tỉ USD, đây là một nỗ lực của BRICS nhằm tạo ra một định chế tài chính độc lập cho nhóm mình.
Quan trọng hơn, trong bối cảnh xu hướng chuyển dịch sức mạnh kinh tế từ Tây sang Đông đang diễn ra, đây có thể là sự khẳng định và có quyền lực nhất định trong phạm vi khu vực, cũng như ảnh hưởng chính trị toàn cầu.
Một “con bài” để BRICS giảm phụ thuộc phương Tây
Mục đích của Ngân hàng NBD là hỗ trợ các dự án phát triển cơ sở hạ tầng cho các nền kinh tế mới nổi cả trong và ngoài khối BRICS. Đồng thời, BRICS mong muốn xây dựng một thể chế tài chính đủ mạnh để giảm dần sự phụ thuộc của các nền kinh tế này đối với các thể chế phương Tây khác.
Ngay điều 1 trong thỏa thuận về thành lập NBD đã tuyên bố mục đích và cam kết của NBD là sẽ huy động nguồn vốn cho các dự án phát triển bền vững và cơ sở hạ tầng cho các nước BRICS, các nền kinh tế mới nổi và các quốc gia đang phát triển. Bên cạnh đó, BRICS phát huy các nỗ lực xây dựng thể chế tài chính khu vực và đa phương vì mục tiêu tăng trưởng và phát triển toàn cầu.
Lãnh đạo năm nước thuộc khối BRICS (Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc, Nam Phi) đang rất kỳ vọng về một “Ngân hàng thế giới thứ hai” với mức độ độc lập và ảnh hưởng cao. Ảnh minh họa: AFP
Để thực hiện mục đích này, ngân hàng sẽ hỗ trợ các dự án tư nhân cũng như công cộng thông qua các khoản vay, bảo lãnh ngân hàng, huy động vốn và các công cụ tài chính khác. Mặt khác, ngân hàng cũng sẽ hợp tác với các tổ chức quốc tế, các đơn vị tài chính nhằm cung cấp hỗ trợ kỹ thuật cho các dự án của mình.
Như vậy, Ngân hàng Phát triển mới của BRICS với năm thành viên sáng lập sẽ để mở tư cách thành viên cho tất cả thành viên của Liên Hiệp Quốc, cũng như cho các thành viên vay và không vay vốn của ngân hàng. Các thành viên sáng lập cùng nhau góp vốn ban đầu đồng đều, trong đó quyền bỏ phiếu và sở hữu của các thành viên tương đương nhau. Chủ tịch và phó chủ tịch ngân hàng sẽ được bầu chọn luân phiên từ các quốc gia thành viên sáng lập.
Né các cú sốc từ Mỹ
Theo nhà kinh tế học-GS Stephany Griffith-Jones (ĐH Columbia, Mỹ), việc BRICS cho ra đời Ngân hàng Phát triển mới xuất phát từ hai vấn đề, trong đó nổi lên là hiện trạng thiếu vắng một thể chế tài chính cho khu vực phía Nam bán cầu là nơi tập trung các nước đang phát triển.
Sự lớn mạnh của các nền kinh tế BRICS đang làm cả thế giới sửng sốt. Ước tính BRICS đóng góp cho GDP toàn cầu 25% và chiếm 40% dân số thế giới. Song hành với sự phát triển này, các dòng chảy vốn lớn từ những nền kinh tế mới nổi dẫn đến tình trạng giảm tỉ giá hối đoái, đặc biệt mỗi khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ áp dụng các gói nới lỏng định lượng (Quantitative Easing) nhằm góp phần bơm thêm tiền vào nền kinh tế. Một ví dụ mới đây khi chính phủ Mỹ đóng cửa vào tháng 10-2013 (do Thượng viện và Hạ viện Mỹ bất đồng về vấn đề ngân sách của chính phủ) là một cú sốc cho các nền kinh tế mới nổi. Và sự phụ thuộc bấy lâu của BRICS vào các thể chế tài chính phương Tây đem lại không ít phiền toái.
Tuy rằng Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) vẫn có thể đáp ứng cán cân tài chính trong giai đoạn ngắn hạn nhưng như thế vẫn chưa bao quát. Điều này tạo nên sự thiếu vắng một thể chế tài chính cho khu vực phía Nam bán cầu. Mục tiêu của Ngân hàng Phát triển mới BRICS là lấp đầy khoảng trống này. Với dự trữ ngoại tệ 100 tỉ USD, Ngân hàng Phát triển mới sẽ đem lại tính thanh khoản ngay cả trong các trường hợp khủng hoảng. Đồng thời, BRICS dần thoát khỏi sự can thiệp của IMF. Bên cạnh đó, việc thành lập ngân hàng thể hiện quyết tâm của các nhà lãnh đạo khối BRICS, theo như phát biểu của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và Tổng thống Brazil Rouseff vào tháng 6-2013 là “củng cố phối hợp chính sách” - trước nguy cơ sụt giảm giá trị tiền tệ trước đồng đôla Mỹ. Đây là nỗ lực hợp tác của các nền kinh tế mới nổi trên quy mô toàn cầu.
Ngân hàng cho sự thịnh vượng của BRICS
Stephany Griffith-Jones nói thêm NBD ra đời còn dựa trên nhu cầu phát triển bền vững và xây dựng cơ sở hạ tầng cho các nước thuộc khối các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển. Một điều khá thú vị khi điểm qua sự hình thành của các ngân hàng phát triển trong lịch sử là chúng đều bắt nguồn từ nhu cầu phát triển bền vững và xây dựng cơ sở hạ tầng. Ví dụ Ngân hàng Đầu tư châu Âu (European Investment Bank) với mục tiêu giúp xây dựng cơ sở hạ tầng, thu hẹp khoảng cách giữa các quốc gia giàu và nghèo ở châu Âu, góp phần đẩy mạnh hợp tác thương mại.
Hay như trường hợp của World Bank, mục tiêu ban đầu cũng để hỗ trợ quá trình tái thiết cơ sở hạ tầng châu Âu sau Thế chiến thứ hai. Sau này các thể chế này mở rộng hoạt động và trong những năm gần đây đang hướng đến phát triển bền vững. Ngân hàng Phát triển mới BRICS cũng không ngoại lệ. Thứ nhất, các quốc gia đang phát triển rất cần được đầu tư vào cơ sở hạ tầng để tạo điều kiện tăng trưởng kinh tế. Nghiên cứu thực tế cho thấy phát triển cơ sở hạ tầng còn làm giảm mức độ bất bình đẳng trong xã hội, tạo cơ hội cho người nghèo tiếp cận các dịch vụ tối thiểu nhất.
Mặt khác, việc xây dựng mới cơ sở hạ tầng còn phải song hành với việc phát triển bền vững, bảo vệ môi trường và đáp ứng trước sự thay đổi khí hậu. Để đáp ứng cho việc này ước tính cần đến 0,8-0,9 ngàn tỉ mỗi năm cho thời điểm hiện tại và con số này sẽ tăng lên đến 1,8-2,3 tỉ năm 2020. Trong tương lai, các ngân hàng phát triển hiện tại không thể đáp ứng con số này.
Thêm vào đó, việc hình thành ngân hàng mới cũng tạo cơ hội cho các nền kinh tế mới nổi trong và ngoài khối góp tiếng nói vào hệ thống tài chính. Các quốc gia đầu tư tiềm năng vào ngân hàng này sẽ có lợi ích rõ ràng trong việc đầu tư cơ sở hạ tầng vào các khu vực mà họ sẽ hợp tác thương mại và đầu tư trong tương lai.
Viết lại lịch sử tài chính thế giới?
Việc thành lập Ngân hàng Phát triển mới tạo ra diễn đàn giá trị thực chất hơn để các nước BRICS góp phần vào quá trình cải cách hệ thống tiền tệ quốc tế. Khi chia sẻ trách nhiệm lãnh đạo và gánh nặng toàn cầu, khối BRICS sẽ gia tăng vai trò của mình, phục vụ cho lợi ích quốc gia của chính họ và đem lại các đóng góp cho các đối tác khác. Đó là lập luận của phe lạc quan hay còn gọi là nhóm cổ súy “đa phương hóa” chính trị toàn cầu.
Nhưng mặt khác, Ngân hàng Phát triển mới của BRICS cũng đặt ra rất nhiều câu hỏi về tính khả thi, đặc biệt khi giữa các thành viên có quá nhiều xung đột lợi ích và tham vọng ảnh hưởng khác nhau. Liệu họ có thể tìm thấy điểm chung để cùng hành động? Khả năng chi phối của Trung Quốc (GDP của Trung Quốc lớn hơn của tất cả thành viên cộng lại) đến mức độ nào? Có thể thấy rõ sự đồng thuận và công bằng giữa các thành viên sáng lập cũng khá khập khiễng khi vai trò của Nam Phi mờ nhạt hơn hẳn so với các thành viên còn lại. Có một thực tế trước mắt là các ngân hàng “phát triển” thách thức hệ thống tiền tệ quốc tế dạng này đang hoạt động kém hiệu quả, như trường hợp ý tưởng thành lập Ngân hàng Phía Nam (Bank of South) ở khu vực châu Mỹ.
Bản thân Nga và Trung Quốc cũng từng có sáng kiến thành lập các tổ chức tương tự. Ý tưởng của Nga về một liên minh kinh tế Á-Âu (Eurasian Economic Union) vào năm 2015 vẫn còn đang nằm trên dự thảo. Hay Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (Shanghai Cooperation Organization) có cả Nga và Trung là thành viên nhằm gây đối trọng về mặt an ninh với phương Tây cũng thất bại.

BRICS đang muốn thay đổi hệ thống do Mỹ và phương Tây dẫn đầu, thế nhưng chính họ cũng không thể hình dung ra viễn cảnh đó ra sao. Sự ra đời của Ngân hàng Phát triển mới của BRICS rõ ràng mang một ý nghĩa quan trọng. Một thế giới tương lai do BRICS làm trung tâm tuy vậy còn khá xa vời.