Thứ Bảy, 11 tháng 7, 2015

Thách thức của quá trình mở rộng ASEM

Thách thức của quá trình mở rộng ASEM


USSH — Trước thực tế là ASEM không có một tiêu chí địa lí rõ ràng đối với các thành viên mới kết nạp, tác giả bài viết đặt ra câu hỏi về xu thế phát triển của ASEM và đi tìm câu trả lời qua việc phân tích thách thức đối với quá trình mở rộng của tổ chức này.

1. Đặt vấn đề

Ngày 4 và 5 tháng 10 năm 2010 tại Hội nghị thượng đỉnh lần thứ 8 của Diễn đàn Á-Âu (ASEM) tại Brussels (Bỉ), ba nước Australia, New Zealand và Nga sẽ chính thức được kết nạp đưa con số thành viên ASEM lên tới con số 48. Vấn đề là cả ba quốc gia này đều nộp đơn gia nhập ASEM với tư cách là thành viên của châu Á. Việc 03 nước không phải từ châu Á xin gia nhập ASEM với tư cách là các quốc gia Á châu đã gây ra một cuộc thảo luận sôi nổi về quy chế thành viên, về tính chất và tương lai của Diễn đàn Á-Âu. ASEM tiến hành mở rộng quy mô của mình lần đầu tiên vào năm 2004 tại Hội nghị thượng đỉnh lần thứ 5 ở Hà Nội. Khi đó về phía châu Á, 03 thành viên mới của ASEAN là Campuchia, Lào và Myanmar được kết nạp, để đổi lại về phía châu Âu 10 thành viên mới của Liên minh châu Âu (EU) đã gia nhập diễn đàn này. Lần mở rộng thứ hai của ASEM diễn ra vào năm 2008 tại Hội nghị thượng đỉnh 7 của ASEM diễn ra tại Bắc Kinh với việc kết nạp 03 nước châu Á là Ấn Độ, Pakistan và Mông Cổ, đồng thời kết nạp 2 thành viên mới của EU là Bungari và Rumani.
Trong một mức độ nào đó, quá trình mở rộng của ASEM như vừa nói, phản ánh một thực tế là Diễn đàn này không có một tiêu chí địa lí rõ ràng đối với các thành viên mới kết nạp. Trong khi các nước tham gia ASEM về phía châu Âu 100% là thành viên EU, một tổ chức khu vực, thì về phía châu Á, các nước lại không chỉ là thành viên của ASEAN. Vì thế, việc kết nạp Australia, New Zealand và Nga lần này đã đặt ra một câu hỏi là liệu có phải ASEM sẽ phát triển từ một đối thoại khu vực (region-to-region dialogue) với cơ chế điều phối dựa trên tiêu chí khu vực sang một tiến trình đối thoại quốc gia (state-to-state dialogue) với sự đa dạng của các nước thành viên và không có sự điều phối của hai tổ chức khu vực là ASEAN và EU? Bài viết này sẽ cố gắng trả lời câu hỏi này bằng cách phân tích thách thức đối với quá trình mở rộng của ASEM. Bài viết gồm ba phần, trong đó phần một giới thiệu khái quát quá trình mở rộng của ASEM, phần hai phân tích những thách thức khi kết nạp 03 thành viên mới và phần ba đưa ra một số triển vọng của diễn đàn này.

2. Khái quát về quá trình mở rộng của ASEM

Ngày 01/03/1996, 25 người đứng đầu nhà nước và chính phủ và chủ tịch Uỷ ban châu Âu đã gặp nhau ở Bangkok tuyên bố sự ra đời chính thức của một diễn đàn đối thoại giữa hai châu lục Á và Âu (ASEM). Tham gia về phía châu Á lúc đó mới chỉ là 7 nước thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và 3 nước đối tác của ASEAN là Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc. Về phía châu Âu tiêu chí thống nhất là các nước thành viên của EU và Chủ tịch uỷ ban châu Âu. Hội nghị thượng đỉnh lần 1 được coi là sự kiện lịch sử có tính bước ngoặt trong quan hệ giữa hai khu vực. Nếu như Hội nghị thượng đỉnh 1 của ASEM là hội nghị thành lập, thì Hội nghị thượng đỉnh lần 2 được tổ chức ở Anh năm 1998 đã phải đối mặt với chủ đề khủng hoảng tài chính châu Á vừa mới diễn ra năm 1997. Phải đến Hội nghị thượng đỉnh ASEM 3 được tổ chức ở Hàn Quốc năm 2000, các nhà lãnh đạo của hai châu lục mới thông qua được Khuôn khổ hợp tác Á-Âu chính thức, đặt ra một số nguyên tắc và định hướng cho tiến trình hợp tác Á-Âu. Nhưng ngay sau đó, Hội nghị thượng đỉnh 4 tổ chức tại Copenhagen (Đan Mạch) năm 2002 lại phải đương đầu với chủ đề chủ nghĩa khủng bố quốc tế. Mở rộng thành viên là đề tài gây nhiều tranh cãi nhất tại Hội nghị thượng đỉnh 5 diễn ra tại Hà Nội năm 2004, khi về phía châu Âu 10 quốc gia mới của EU “đương nhiên” được kết nạp để “đánh đổi” với sự gia nhập của 03 nước thành viên ASEAN là Campuchia, Lào và Myanmar, trong đó sự kết nạp của Myanmar bị phản đối nhiều nhất. Năm 2006, Hội nghị thượng đỉnh 6 tại Helsinki (Phần Lan) kỉ niệm 10 năm ASEM thảo luận chủ yếu về các mối đe doạ an ninh và ủng hộ hệ thống quốc tế đa phương. Năm 2008, tại Bắc Kinh, Hội nghị thượng đỉnh 7 đánh dấu sự mở rộng lần thứ hai của ASEM khi về phía EU, hai thành viên mới là Rumani và Bungari “đương nhiên” trở thành thành viên của ASEM, nâng tổng số thành viên của châu Âu là 28. Phía châu Á kết nạp thêm Ấn Độ, Mông Cổ và Pakistan, trong đó Ấn Độ vừa là thành viên của Hội nghị thượng đỉnh Đông Á (EAS) vừa là thành viên của Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) giống như hai nước Mông Cổ và Pakistan. Ban thư kí ASEAN (ASEAN Secretariat) cũng được kết nạp với tư cách là một thành viên, đưa con số các nước thành viên châu Á lên đến con số 17. Trước thềm Hội nghị thượng đỉnh thứ 8 tại Brussels (Bỉ), tổng số thành viên của ASEM là 45 trong đó châu Âu là 28 và châu Á là 17. Điểm khác biệt lớn nhất giữa hai châu lục là nếu như ở châu Âu thành viên của ASEM phải là các nước EU thì đối với châu Á, các nước không bắt buộc và không thể chỉ là thành viên của ASEAN.
Mối quan hệ có tính thể chế mặc dù còn lỏng lẻo của Diễn đàn Á-Âu là phản ánh thực tế của một quá trình toàn cầu hướng tới xây dựng một trật tự thế giới mới với những sắp xếp đa dạng tạo thành một hệ thống quản trị toàn cầu mới. Trong hệ thống đó có 5 cấp độ hoạch định chính sách khác nhau là toàn cầu, liên khu vực, khu vực, tiểu khu vực và cấp độ song phương, trong đó ASEM được coi là thuộc cấp độ liên khu vực.(1)
Bảng 1: Hệ thống quản trị toàn cầu
TTCấp độTên tổ chức
1Toàn cầu, đa phương (global, multilateral)Liên hợp quốc (UN), Tổ chức thương mại thế giới (WTO), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), G-8…
2Liên khu vực (interregional)EU-ASEAN, EU-MERCOSUR, ASEAN-MERCOSUR, APEC, ASEM…
3Khu vực (regional)EU, ASEAN, MERCOSUR, NAFTA…
4Tiểu khu vực (Subregional)Các khu vực châu Âu (Euroregions), Tiểu vùng Mê Kông (Mekong subregion)
5Song phương giữa các quốc gia 
ASEM được coi là một diễn đàn đối thoại không chính thức liên khu vực về các vấn đề kinh tế, chính trị và văn hoá liên quan đến cả châu Á-Âu. Một quan hệ được coi là liên khu vực khi có các biểu hiện sau đây: 1) đó là quan hệ giữa hai tổ chức chức khu vực; 2) đó là quan hệ giữa một tổ chức khu vực và một nhóm các quốc gia khu vực; 3) quan hệ giữa hai nhóm quốc gia khu vực(2). Theo quan điểm này, ASEM rõ ràng thuộc loại thứ hai vì về phía châu Âu, EU hoặc UỶ ban châu Âu và chủ tịch luân phiên hành động với tư cách là người điều phối các lợi ích của các nước thành viên trong khi về phía châu Á các thể chế khu vực lại không thực hiện một cách rõ ràng chức năng này. Phía châu Á là một tập hợp tương đối lỏng lẻo các quốc gia, theo đó một quốc gia điều phối được xác định để đưa ra những vấn đề chung trước khi Hội nghị thượng đỉnh ASEM được triệu tập.

3. Thách thức mở rộng đối với ASEM

Tuy nhiên, với sự mở rộng năm 2010 khi ASEM kết nạp Australia, New Zealand và Nga, thì tính chất liên khu vực của diễn đàn Á-Âu đang trở thành một vấn đề và tiêu chí thành viên của diễn đàn càng trở nên phức tạp. Với sự đa dạng của các nước thành viên, các nước châu Á đã vượt qua các tiêu chí địa lí thông thường và các giới hạn của các kiến trúc khu vực đang tồn tại. Giờ đây với sự tham gia của Australia, New Zealand và Nga, ASEM đã trở thành một tiến trình đối thoại với các thành viên không nhất thiết phải gắn với một tổ chức khu vực và có thể bao gồm cả những quốc gia từ hơn hai khu vực.
Quyết định chính thức về quy chế thành viên cho Australia, New Zealand và Nga sẽ được quyết định tại Hội nghị thượng đỉnh 8 diễn ra vào ngày 4-5/10/2010 tại Brussels. Để chuẩn bị cho lần mở rộng này, Hội nghị ngoại trưởng ASEM 9 tại Hà Nội ngày 25-26/05/2009 đã đưa ra ý kiến chỉ đạo cho việc kết nạp thành viên mới như sau:
“Các ngoại trưởng hoan nghênh việc nộp đơn gia nhập ASEM của Australia và Nga và uỷ quyền cho các quan chức cao cấp chuẩn bị các thể thức cho phép hai nước này chính thức gia nhập ASEM tại Hội nghị thượng đỉnh ở Brussels năm 2010. Trước nhu cầu gia nhập ASEM ngày càng tăng của các nước khác, các ngoại trưởng cũng giao cho các quan chức cao cấp thảo luận và đề xuất các tiêu chí, nguyên tắc và thủ tục trên cơ sở Khuôn khổ hợp tác Á-Âu năm 2000 liên quan đến tương lai mở rộng của ASEM.”(3)
Bảng 2: So sánh quá trình mở rộng ASEM
 1996Lần mở rộng 1 (2004)Lần mở rộng 2 (2006)Lần mở rộng 3 (2010)
Phía châu Á7 nước ASEAN và 3 nước Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn QuốcCampuchia, Lào, MyanmarẤn Độ, Mông Cổ, Pakistan và Ban thư kí ASEANAustralia, New Zealand, Nga
Nhân tố thúc đẩy-Mở rộng ASEANCá nhân các nướcCá nhân các nước
Số lượng10131720
Phía châu ÂuEU-15 và UỶ ban châu Âu10 nước thành viên mới của EU(4)2 nước thành viên mới là Bulgari và Rumani-
Nhân tố thúc đẩy-Mở rộng EUMở rộng EU 
Số lượng16262828
Nhìn lại lịch sử mở rộng của ASEM chúng ta thấy, cho đến nay vẫn chưa có một bộ nguyên tắc thống nhất về quy chế thành viên của diễn đàn. Nếu như các nước thành viên mới của EU “đương nhiên” trở thành thành viên của ASEM thì việc kết nạp Myanmar- một thành viên của ASEAN- lại bị EU phản đối kịch liệt, thậm chí các nước EU lúc đó còn “doạ tẩy chay“ Hội nghị thượng đỉnh ASEM 5 tại Hà Nội năm 2004(5). Lần mở rộng thứ ba này một lần nữa lại thể hiện sự khác biệt về quan điểm không chỉ giữa châu Âu và châu Á mà ngay cả trong nội bộ mỗi khối. Sau rất nhiều lần thảo luận và trao đổi cuối cùng người ta đã phải đưa ra “Bản sửa đổi tiêu chí tạm thời thứ ba” (Temporary Third Category Arrangement) để phù hợp với cả ba thành viên mới(6). Australia và New Zealand đã bày tỏ nguyện vọng tham gia ASEAN về phía châu Á. Thật khó có thể hình dung Australia và New Zealand lại tham gia với tư cách các nước châu Á. Từ góc độ thể chế, nếu có điều gì gắn hai nước này với châu Á thì có lẽ chỉ vì cả hai đều là thành viên của Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á (East Asia Summit-EAS) từ năm 2005. Còn trường hợp gia nhập ASEAM với tư cách là một nước châu Á của Nga thì còn khó giải thích hơn. Sau khi kí Hiệp định Thân thiện và Hợp tác (TAC) vào ngày 29 tháng 11 năm 2004 thừa nhận các nguyên tắc cơ bản của ASEAN, Liên bang Nga cũng mong muốn được tham gia ASEM với tư cách thành viên phía châu Á.
Có thể lí giải nguyên nhân tham gia ASEM của Australia, New Zealand và Nga từ góc độ của EU. Rất có thể là quan điểm „cứng nhắc“ của EU về tư cách thành viên đã „buộc“ Australia, New Zealand và Nga phải gia nhập ASEM với tư cách là các nước châu Á. Trên thực tế, EU cũng không hề phản đối mà còn hoan nghênh việc kết nạp 03 nước thành viên mới này. Có ba lí do để giải thích quan điểm của EU. Thứ nhất, EU muốn kết nạp vào diễn đàn này tất cả các chủ thể lớn nhằm tăng thêm tiếng nói chung của ASEM trên trường quốc tế, không kể nước đó thuộc châu Á hay châu Âu. Thứ hai, thông qua quan điểm thống nhất về mở rộng ASEM, EU cũng muốn chứng tỏ rằng họ đang hướng tới việc hoạch định một chính sách đối ngoại chung. Thứ ba, sự mở rộng các thành viên về phía châu Á cũng làm cho sự chênh lệch về số lượng giữa hai bên được giảm bớt. „Tỉ số“ hiện tại, nếu tính cả Australia, New Zealand và Nga cho châu Á thì vẫn nghiêng về châu Âu với chênh lệch đáng kể là 28-20.
Về phía các nước châu Á, một số nước cho rằng ba thành viên mới này về bản chất là các nước châu Âu, nhưng tính chất châu Á rất mờ nhạt. Việc kết nạp ba nước này về phía châu Á cho thấy các nước châu Á linh hoạt hơn các nước châu Âu rất nhiều trong tiến trình ASEM. Những kiến trúc an ninh khu vực năng động nhất của châu Á như ARF, ASEAN+3 và EAS ngày càng đóng vai trò quan trọng và được xem như là sự mở rộng của chủ nghĩa khu vực của ASEAN.

4. Triển vọng của ASEM

Tương lai của ASEM phụ thuộc nhiều vào sự hiểu biết lẫn nhau và hợp tác của EU với châu Á. Vì EU chỉ cho phép các thành viên của mình được tham gia vào ASEM cho nên trong tương lai các nước không phải là thành viên EU sẽ gia nhập ASEM với tư cách là các nước châu Á hoặc các nước thứ ba. Tuy nhiên điều này cũng sẽ gặp những trở ngại nhất định. Thứ nhất, có thể các nước thành viên “châu Á mới” sẽ nhất trí với các nước thành viên “châu Á cũ”. Lúc đó phía châu Á sẽ mạnh hơn rất nhiều so với các nước EU. Đối thoại giữa hai nhóm nước sẽ tiếp tục và có thể sẽ xuất hiện những nhóm nước mới như “Trung Á” hoặc “Nam Á”. Một khả năng khác có thể xảy ra là các thành viên “châu Á mới” sẽ không nhất trí với các nước “châu Á cũ”. Khi đó đối thoại giữa hai khu vực Á-Âu-nền tảng cơ bản của ASEM- sẽ bị đe doạ, ngoại giao giữa các quốc gia sẽ thay thế đối thoại giữa hai nhóm nước.
Nếu ASEM vẫn tiếp tục phát triển theo xu hướng như hiện nay, khi sự năng động chỉ diễn ra ở phía châu Á, thì cơ chế đối thoại giữa một bên là một tổ chức khu vực (EU) với một bên là một nhóm các quốc gia có thể từ một vài khu vực mà nòng cốt là ASEAN vẫn phát huy tác dụng. Cho dù thế nào thì ASEM vẫn đủ linh hoạt để đáp ứng được nhu cầu cơ bản của lãnh đạo châu Âu và châu Á là nâng cao hiểu biết và đối thoại giữa EU và các nước phi EU. Trên thực tế, việc mở rộng thành viên của ASEM không tốn kém nhiều và không ảnh hưởng đến mục tiêu cơ bản đó.
___________

Chú thích

(1) Juergen Rueland, The future of ASEM process, in: Wim Stokhof and Van der Velde (eds.), ASEM- A Window of Opportunity, London 1999.
(2) Heiner Haenggi, Interregionalism as multifaceted phenomenon, in: Heiner Haenggi, Ralf Roloff and Juergen Rueland (eds.), Interregionalism and International Relations, London and New York: Routledge 2006, pp.31-62.
(3) ASEM, 9th ASEM Foreign Ministers Meeting, Hanoi, 25-26, May (www.aseminfoboard.org/content/documents/FMM9Chairs-Statement.pdf)
(4) Mười nước thành viên mới gia nhập EU năm 2004 gồm: Síp, Cộng hòa Séc, Estonia, Hungary, Latvia, Lítva, Malta, Ba Lan, Cộng hòa Slovakia và Slovenia.
(5) Phạm Quang Minh, ASEM5 – Thách thức trong quan hệ Á-Âu, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, Số chuyên đề về ASEM, số 5 (68)-2004, tr.28-34.
(6) Jakarta Post 11 June 2009.
(Nguồn : http://ussh.edu.vn/thach-thuc-cua-qua-trinh-mo-rong/2799)

"Tự do hàng hải và lợi ích của Mỹ ở biển Đông"

"Tự do hàng hải và lợi ích của Mỹ ở biển Đông"

BBTKhoa Quốc tế học xin giới thiệu với thầy, cô và các bạn sinh viên bài viết của PGS.TS.Phạm Quang Minh và Hà Văn Long (sinh viên khóa QH-2009-X) về chủ đề "Tự do hàng hải và lợi ích của Mỹ ở biển Đông". Bài viết được đăng trên tạp chí Quan hệ quốc phòng số 16, quý IV năm 2011.
Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) kết thúc ngày 23-7-2010, với một chủ đề nóng là Biển Đông, đã không còn thấy sự im lặng, đã không còn thấy sự hòa nhã mà thay vào đó là một bầu không khí khá căng thẳng. Người ta đã không còn thấy việc chỉ có Trung Quốc và một số nước liên quan đến tranh chấp Biển Đông ngồi nói chuyện riêng với nhau để thảo luận vấn đề tranh chấp tại Biển Đông mà thêm vào đó là một lời tuyên bố: “Mỹ có lợi ích quốc gia trong tự do hàng hải, trong tiếp cận các vùng biển chung của châu Á và tôn trọng luật pháp quốc tế ở Biển Đông. Lời phát biểu đó của Ngoại trưởng Mỹ Hi-la-ry Clin-tơn tái khẳng định mối quan tâm sâu sắc của Mỹ tới tranh chấp Biển Đông và sự ủng hộ việc quốc tế hóa Biển Đông. Liệu đây có phải một bước chuyển mình từ chính sách trung lập sang tích cực quan tâm trong tranh chấp tại Biển Đông của Chính quyền Mỹ? Một loạt các câu hỏi được đặt ra sau lời tuyên bố của Ngoại trưởng Hi-la-ry Clin-tơn như thuật ngữ tự do hàng hải là gì? Tại sao Mỹ lại coi tự do hàng hải như lợi ích quốc gia của mình? Có phải Mỹ chỉ có lợi ích về tự dohàng hải hay đằng sau nó là một loạt những lợi ích quốc gia quan trọng khác? Và cuối cùng, Mỹ sẽ phải làm gì để bảo vệ những lợi ích chiến lược của họ tại Biển Đông? Đây là những câu hỏi cần có lời giải đáp vì Mỹ là một siêu cường và chắc chắn sự thay đổi thái độ của Mỹ sẽ có tác động tới tình hình tranh chấp tại Biển Đông.
Khái niệm tự do hàng hải
Đối với Mỹ, tự do hàng hải là một nhân tố quan trọng trong những chính sách của họ tại Biển Đông. Bằng chứng là trong nhiều bài phát biểu của giới chức Mỹ như Ngoại trưởng Mỹ Hi-la-ry Clin-tơn, Bộ trưởng Quốc phòng Rô-bớt Ghết đều nhắc đến việc duy trì tự do hàng hải nhằm đảm bảo việc giao thương trên Biển Đông diễn ra một cách bình thường và không bị ngăn cản. Vậy một câu hỏi được đặt ra, đó là tự do hàng hải là gì?
Trong từ điển Bách khoa toàn thư có giải thích khái niệm tự do hàng hải như sau: “Mỗi quốc gia, không phụ thuộc vào việc quốc gia đó có biển hay không có biển, đều cóquyền để tàu mang quốc kỳ nước mình qua lại tự do trên biển. Để đảm bảo tự do hàng hải, pháp luật quốc tế cấm xây dựng các đảo nhân tạo và các công trình trên biển nếu như chúng cản trở những đường trên biển có ý nghĩa quan trọng đối với hàng hải quốc tế.”  Theo wikipedia: “Tự do hàng hải là việc mỗi quốc gia có quyền để tàu có mang quốc kỳ của nước mình đi lại tự do trên biển mà không bị đe dọa bởi tàu thuyền của các quốc gia khác”. 
Đặc biệt, trong điều 87 của Công ước Liên hợp quốc về Luật biển có nói về quyền tự do trên biển cả như sau: “Biển cả được để ngỏ cho tất cả các quốc gia, dù có biển hay không có biển. Quyền tự do trên biển cả được thực hiện trong những điều kiện do các quy định của Công ước hay và những quy tắc khác của pháp luật quốc tế trù định. Đối với các quốc gia dù có biển hay không có biển, quyền tự do này đặc biệt bao gồm tự do hàng hải, tự do hàng không, tự do đặt các dây cáp hoặc ống dẫn ngầm, tự do xây dựng các đảo nhân tạo hoặc các thiết bị được pháp luật quốc tế cho phép, tự do đánh bắt hải sản, tự do nghiên cứu khoa học”.
Như vậy, có thể thấy khái niệm tự do hàng hải là một thuật ngữ quan trọng được ghi trong Công ước Liên hợp quốc về biển và được nhiều quốc gia quan tâm.
Đến thế kỷ XX, nguyên tắc mới này trở thành một bộ phận của luật biển quốc tế hiện đang được ghi nhận trong Công ước của Liên hợp quốc năm 1982 về luật biển. Mỹ không phê chuẩn công ước này, nhưng không có nghĩa là Mỹ không bị điều chỉnh bởi các nguyên tắc nêu trong Công ước.
Lợi ích và chính sách của Mỹ ở Biển Đông
Hơn ai hết, Mỹ hiểu rõ những lợi ích mà chính sách tự do hàng hải mang lại. Mỹ cho rằng tất cả các quốc gia phải tuân theo luật biển quốc tế như đã ghi trong Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển, dù Mỹ chưa phê chuẩn Công ước. 
Lợi ích của Mỹ tại Biển Đông nằm trong lợi ích đa dạng và trải rộng của Mỹ tại Đông Á, Tây Thái Bình Dương với tư cách là một cường quốc khu vực và toàn cầu. Trong một báo cáo của Mỹ gần đây, lợi ích an ninh quốc gia của Mỹ bao gồm: Bảo vệ lãnh thổ Mỹ, người dân Mỹ, đồng minh và lợi ích của Mỹ; Ổn định khu vực và loại bỏ bất kỳ cường quốc vượt trội hay nhóm cường quốc nào sẽ đe dọa hay cản trở cơ hội hay lợi ích của Mỹ; Phát triển khu vực và thúc đẩy tự do thương mại và mở cửa thị trường; Đảm bảo một thế giới ổn định, an toàn và phi hạt nhân; Thúc đẩy các giá trị toàn cầu, như quản lý tốt, dân chủ, nhân quyền và tự do tôn giáo; Đảm bảo tự do hàng hải, điều kiện tiên quyết để ổn định khu vực và bảo vệ lợi ích của Mỹ. Những lợi ích này luôn được duy trì cho dù Chính quyền Mỹ có thay đổi. Mỹ gia tăng dính líu vào khu vực châu Á - Thái Bình Dương cũng là để phục vụ các lợi ích kể trên. Trong đó Biển Đông là nơi có  sự tập trung rất lớn những lợi ích chiến lược của Mỹ.
Chính sách của Mỹ ở Biển Đông đã không thay đổi ít nhất trong vòng 15 năm (kể từ năm 1995), tuy nhiên sự quan tâm của Mỹ tại khu vực này không đồng nhất trong các thời điểm khác nhau. Trong gần một thập kỷ đầu của thế kỷ XXI, với việc tập trung phần lớn lực lượng trong việc tiêu diệt chủ nghĩa khủng bố, vấn đề Biển Đông đã không nằm trong bản đồ tư duy của Chính quyền Mỹ. Tuy nhiên, khi bối cảnh chiến lược tại khu vực này thay đổi cùng với những hành động ngày càng quyết đoán của Trung Quốc đã khơi lại sự quan tâm của Mỹ và dẫn đến việc khẳng định lại chính sách của Mỹ ở khu vực này. Trong bản tuyên bố về chính sách của Mỹ tại Biển Đông ngày 10-5-1995 có nêu: “Duy trì tự do hàng hải là lợi ích cơ bản của Mỹ. Việc không ngăn cản sự tự do di chuyển của mọi loại thuyền bè và máy bay trên Biển Đông là rất cần thiết cho hòa bình và thịnh vượng của toàn khu vực châu Á - Thái Bình Dương, trong đó bao gồm cả Mỹ”.
Bên cạnh đó, trong bài phát biểu của mình tại cuộc đối thoại Shangri-La, tháng 6-2010 tại Xin-ga-po, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Rô-bớt Ghết cho biết: “Chính sách của Mỹ rất rõ ràng. Việc duy trì ổn định, tự do hàng hải và không gây cản trở cho sự phát triển kinh tế là điều cần thiết”. Sau đó một tháng, vào ngày 23-7-2010 là bài phát biểu của Ngoại trưởng Mỹ Hi-la-ry Clin-tơn tại hội nghị ARF diễn ra tại Hà Nội: “Mỹ có lợi ích quốc gia trong tự do hàng hải, trong tiếp cận các vùng biển chung của châu Á và tôn trọng luật pháp quốc tế ở biển Đông”. 
Đặc biệt là bản tuyên bố chung Mỹ - ASEAN vào tháng 10-2010 cũng đã khẳng định: “Chúng tôi tái khẳng định tầm quan trọng của ổn định và hòa bình khu vực, an ninh hàng hải, không cản trở thương mại và tự do hàng hải theo những quy định liên quan được nhất trí của luật pháp quốc tế, gồm Công ước LHQ về Luật Biển (UNCLOS) và những điều luật hàng hải quốc tế khác, đồng thời giải quyết hoà bình các tranh chấp”.
Tóm lại, có thể thấy, thái độ của Mỹ trong vấn đề Biển Đông chịu sự chi phối bởi chiến lược cơ bản của Mỹ ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương và những ảnh hưởng chính sách của nước này đối với Trung Quốc và các nước Đông Nam Á. Đối với vấn đề tự do hàng hải tại Biển Đông, Mỹ luôn giữ một sự quan tâm đặc biệt đến mức mà Mỹ gọi đó là lợi ích quốc gia, bởi duy trì được tự do hàng hải sẽ là một cách tốt nhất để Mỹ có thể can dự vào tranh chấp Biển Đông nhằm trực tiếp bảo vệ những lợi ích của Mỹ ở vùng biển này. Vậy những lợi ích đó là gì?
Biện pháp của Mỹ nhằm bảo vệ lợi ích tại Biển Đông và những tác động tới quan hệ quốc tế trong khu vực
Để bảo vệ lợi ích to lớn của mình, mục tiêu chiến lược của Mỹ là duy trì sự cân bằng chiến lược ở Biển Đông và sự ổn định khu vực, ngăn chặn các nước khác chiếm vị thế chi phối khu vực Biển Đông. Để thực hiện mục tiêu chiến lược này, Mỹ chủ yếu xuất phát từ hai góc độ, xây dựng cơ chế an ninh ổn định tại khu vực Biển Đông và duy trì sự cân bằng sức mạnh trong khu vực, tăng cường bố trí lực lượng của mình ở Biển Đông.
Tăng cường quan hệ với Nhật Bản, Ấn Độ và Ô-xtrây-li-a là biện pháp cụ thể của Mỹ trong việc xây dựng cơ chế vĩ mô. Ở khu vực, việc tăng cường quan hệ với Nhật Bản sẽ có lợi cho Mỹ nâng cao khả năng kiểm soát môi trường an ninh ở khu vực này trong tương lai. Mỹ và Nhật Bản thống nhất về lợi ích ở hai mặt là phòng ngừa Trung Quốc và cùng nhau giữ vững tuyến hàng hải quốc tế ở Biển Đông. Với mục tiêu lớn là phòng ngừa Trung Quốc, Mỹ cũng phải tăng cường quan hệ với Ấn Độ. Hiện tại, Trung Quốc và Ấn Độ là hai quốc gia lớn và phát triển năng động nhất trong khu vực và cũng là hai quốc gia có mối quan hệ phức tạp kéo dài cho đến tận ngày nay. Cả hai thực chất có lẽ đều hướng đến mục đích nhằm kiềm chế sự ảnh hưởng của mỗi bên.
Ngoài ra, việc Trung Quốc tăng cường hiện đại hóa quân đội đang làm cho nhiều quốc gia trong khu vực lo ngại trong đó có Ô-xtrây-li-a. Về vấn đề Biển Đông, Ô-xtrây-li-a cócùng quan điểm với Mỹ đó là duy trì tự do hàng hải tại vùng biển này: “Lợi ích của Ô-xtrây-li-a ở Biển Đông là duy trì sự ổn định rộng rãi hơn ở khu vực này, bao gồm quần đảo Trường Sa xưa nay vốn tồn tại tranh chấp chủ quyền, làm cho con đường giao thông trên biển quan trọng này được tiếp tục mở cửa và tự do sử dụng”. Cũng giống với Nhật Bản, Mỹ và Ô-xtrây-li-a đều có chung hai lợi ích là phòng ngừa Trung Quốc và duy trì tự do hàng hải tại Biển Đông. Bên cạnh đó là một mối quan hệ đối tác cốt lõi đã có từ lâu giữa hai quốc gia. Vì thế sự hợp tác giữa Mỹ và Ô-xtrây-li-a vẫn sẽ tiếp tục được củng cố và tăng cường, chính điều này giúp Mỹ có được một thế lực hùng hậu tại Tây Nam Thái Bình Dương, đảm bảo vững chắc trụ cột thứ 3 trong chính sách Biển Đông của Mỹ.
Ở góc độ thứ hai, bên cạnh việc xây dựng cơ chế vĩ mô bằng việc tăng cường quan hệ với Nhật Bản, Ấn Độ và Ô-xtrây-li-a, Mỹ cũng cần phải duy trì sự cân bằng sức mạnh trong khu vực, tăng cường bố trí lực lượng của mình ở Biển Đông.
Để thực hiện mục tiêu này, chính sách chủ yếu của Mỹ ở Biển Đông là giữ vững mối quan hệ đặc biệt với các quốc gia Đông Nam Á có liên quan đến vấn đề Biển Đông. Một mặt, Mỹ tiếp tục duy trì mối quan hệ liên minh quân sự với Phi-líp-pin, Thái Lan, đồng thời tăng cường hợp tác quân sự với In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a và Việt Nam. Mặt khác, Mỹ ra sức đáp ứng đầy đủ những nhu cầu lợi ích hiện thực của các nước Đông Nam Á, hỗ trợ trang thiết bị vũ khí, kỹ thuật, thông tin cho các nước này. Điều này được thể hiện rất rõ ràng trong chiến lược quân sự mới nhất của Mỹ, công bố hôm 8-2-2011. Lầu Năm Góc đề ra các phương hướng ưu tiên phân bổ quân sự Mỹ, trong đó khẳng định việc chú trọng và tăng cường nguồn lực vào các nước Đông Nam Á. Bản chiến lược mới khẳng định Quân đội Mỹ cần tìm cách “tăng chú ý và đầu tư nguồn lực vào Đông Nam Á và Nam Á”, tăng số lượng các cuộc tập trận với Thái Lan, Phi-líp-pin, Việt Nam và một số nước khác. 
Về kinh tế, Mỹ tiếp tục tăng cường quan hệ đầu tư, thương mại với các nước Đông Nam Á. Biểu hiện là Mỹ đã chủ động đề xuất Sáng kiến vì sự Năng động ASEAN (EAI) về kinh tế - thương mại và Kế hoạch Hợp tác ASEAN (ACP) về hợp tác phát triển. Hai bên cũng đang xây dựng Chương trình Hỗ trợ và Đào tạo Kỹ thuật ASEAN - Mỹ giai đoạn 2 (TATF) trị giá 20 triệu USD để hỗ trợ ASEAN xây dựng cộng đồng vào năm 2015; triển khai các hoạt động hợp tác trong Chương trình Viễn cảnh Phát triển ASEAN (ADVANCE) trị giá 150 triệu USD nhằm hỗ trợ các chương trình khu vực và song phương của ASEAN cũng như hỗ trợ nỗ lực liên kết kinh tế và xây dựng cộng đồng của ASEAN.
Về chính trị, trong thời kỳ thuyết đe dọa từ Trung Quốc thịnh hành, một bộ phận quan chức và giới truyền thông Mỹ cũng từng dựa vào vấn đề Biển Đông để bày tỏ lập trường của mình. Đây chính là thời cơ rất tốt để Mỹ có thể can thiệp mạnh mẽ hơn, với tuyên bố “Mỹ có lợi ích quốc gia trong tự do hàng hải, trong tiếp cận các vùng biển chung của châu Á và tôn trọng luật pháp quốc tế ở Biển Đông” của Ngoại trưởng Mỹ Hi-la-ry Clin-tơn (23-7-2010) tại hội nghị ARF diễn ra tại Hà Nội và chính sách quay trở lại Đông Nam Á của Chính quyền
Ô-ba-ma. Điều này cho thấy nước Mỹ đã chuyển từ chính sách ít quan tâm trước đây sang tích cực quan tâm và tích cực thúc đẩy vấn đề Biển Đông theo hướng quốc tế hóa, đồng thời gửi đi một thông điệp đó là nước Mỹ sẵn sàng trở thành một lực lượng duy trì an ninh, ổn định tại Biển Đông, cũng như toàn bộ khu vực châu Á - Thái Bình Dương và làm chỗ dựa cho các nước Đông Nam Á trước sự đe dọa đến từ Trung Quốc.
Từ năm 2009 đến nay, trong bối cảnh quay trở lại Đông Nam Á, Mỹ càng chú trọng phát huy ảnh hưởng về các mặt chiến lược, chính trị, kinh tế, văn hóa và quân sự ở khu vực Biển Đông. Từ việc tăng cường hiện diện và ảnh hưởng quân sự cho thấy hoạt động quân sự trong hai năm qua của Mỹ đang ngày càng tăng lên.
Hiện nay, tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương thì Nhật Bản và Phi-líp-pin là hai quốc gia đồng minh của Mỹ chịu ảnh hưởng lớn nhất từ vấn đề an ninh trong khu vực Biển Đông, vì thế việc đảm bảo môi trường an ninh, ổn định tại Biển Đông là hết sức quan trọng đối với Mỹ, bởi muốn bảo vệ được lợi ích thì phải tăng cường sự hiện diện mà muốn tăng cường sự hiện diện tại Biển Đông thì không thể không có các quốc gia đồng minh hỗ trợ và làm điểm tựa vững chắc.
Đối với Nhật Bản, một quốc gia tại khu vực Đông Bắc Á, với nguồn tài nguyên nghèo nàn, sự suy thoái của nền kinh tế, tình trạng lão hóa dân số và sự đe dọa về vị thế chiến lược trong khu vực trước sự trỗi dậy ngày càng mạnh mẽ của Trung Quốc thì việc vẫn phải tiếp tục và tăng hợp tác quân sự với Mỹ là điều không thể tránh khỏi. Mặc dù hiện nay quan hệ Nhật - Mỹ đang bước vào giai đoạn thách thức mà biểu hiện là vấn đề căng thẳng giữa hai nước xuất hiện xoay quanh vấn đề căn cứ quân sự Fu-ten-ma của Mỹ ở đảo Ô-ki-na-oa hay việc Nhật Bản tuyên bố chấm dứt sứ mệnh hải quân tiếp nhiên liệu cho các lực lượng do Mỹ lãnh đạo tại Áp-ga-ni-xtan, nhưng việc tiếp tục duy trì mối quan hệ đồng minh với Mỹ sẽ giúp Nhật Bản tránh khỏi những phiền toái về mặt an ninh, trước hết là việc đảm bảo duy trì ổn định tại khu vực Biển Đông, nơi cung cấp phần lớn lượng dầu mỏ cho Nhật Bản, tiếp đó là việc đảm bảo sự an toàn cho Nhật Bản trước sự đe dọa ngày càng lớn đến từ Trung Quốc. Sự tương tác về lợi ích chính là chìa khóa tác động đến quan hệ Mỹ - Nhật. Nhật Bản cần Mỹ để đảm bảo an ninh quốc gia, trong khi Mỹ cần Nhật Bản để duy trì sự hiện diện quân sự, bảo vệ lợi ích tại châu Á - Thái Bình Dương. Sự tác động qua lại đó khiến quan hệ Mỹ - Nhật dù nồng ấm hay lạnh nhạt thì sự hợp tác vẫn luôn phải được duy trì, bởi cả hai đều hiểu rằng nếu thiếu nhau thì đó có thể sẽ là bi kịch.
Đối với Phi-líp-pin, một trong những nước có tuyên bố chủ quyền tại Biển Đông, đồng thời là đồng minh và có quan hệ song phương rất chặt chẽ với Mỹ thì việc dựa vào Mỹ sẽ là một biện pháp nhằm cân bằng sức mạnh với Trung Quốc tại Biển Đông, đảm bảo an toàn về lãnh hải, tạo ưu thế trong các vấn đề về tranh chấp Biển Đông. Về phần mình, Mỹ cũng hết sức coi trọng vị thế và vai trò của Phi-líp-pin trong an ninh khu vực. Ngày 30-7-2009, khi gặp gỡ Tổng thống Phi-líp-pin A-rô-giô tại Nhà Trắng, Tổng thống Mỹ Ô-ba-ma cho rằng Phi-líp-pin là nước điều tiết mối quan hệ giữa Mỹ với Đông Nam Á. Đây như một lời khẳng định cho chính sách trở lại Đông Nam Á của Mỹ và trực tiếp nói lên tầm quan trọng của Phi-líp-pin trong việc làm chân trụ cho Hải quân Mỹ tiếp tục sự hiện diện của mình tại Đông Nam Á. Tuy vậy, xét về mặt lâu dài, Phi-líp-pin lại muốn tự chủ hơn về mặt quân sự cũng như chính trị. Nhưng muốn làm được điều này thì phải trải qua một thời gian với nhiều thách thức khó khăn như phải đối đầu với Trung Quốc hay việc đảm bảo an ninh hàng hải tại Biển Đông, do đó sự liên minh giữa Mỹ và Phi-líp-pin vẫn phải tiếp tục được đảm bảo vì đôi bên cùng có lợi.
Đối với Ma-lai-xi-a và In-đô-nê-xi-a, hai đối tác quan trọng của Mỹ tại Đông Nam Á, thì việc tăng cường sự hiện diện quân sự của Mỹ và mối quan hệ ngày càng phát triển tốt đẹp sẽ khiến cho hai nước này có thể tự tin hơn trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến chủ quyền Biển Đông. Đối với Ma-lai-xi-a, cho dù với Mỹ còn nhiều bất đồng về chính trị, nhưng về quân sự nước này lại tích cực tham gia Hiệp ước phòng thủ chung 5 nước do Ô-xtrây-li-a, đồngminh của Mỹ, tổ chức và hàng năm tham gia tập trận chung giữa Mỹ với các nước Đông Nam Á. Ma-lai-xi-adựa vào sức mạnh quân sự và kỹ thuật của Mỹ để đẩy mạnh thực lực của bản thân, và coi đó là nền tảng, để tiếp tục tuyên bố chủ quyền, khai thác phát triển tài nguyên tại Biển Đông. Đối với In-đô-nê-xi-a, quan hệ ngoại giao với Mỹ đã không ngừng được cải thiện từ sau sự kiện 11-9-2001. Hiện Mỹ đã khôi phục toàn diện sự viện trợ quân sự đối với In-đô-nê-xi-a. Chính sách chủ yếu của In-đô-nê-xi-avề vấn đề Biển Đông là dựa vào hội nghị đa phương và sức mạnh nước lớn để thúc đẩy việc quốc tế hóa, đa phương hóa vấn đề Biển Đông, từ đó đạt được sự tối ưu hóa lợi ích của mình ở Biển Đông. 
Có thể thấy về mặt chiến lược, quan hệ giữa Mỹ với In-đô-nê-xi-a và Ma-lai-xi-a có sự tác động tương hỗ, bổ khuyết cho nhau. Nếu như In-đô-nê-xi-a và Ma-lai-xi-a cần Mỹ để cân bằng sức mạnh với Trung Quốc tại Biển Đông, thì Mỹ lại cần phải hợp tác với hai nước trên để duy trì và mở rộng phạm vi ảnh hưởng tại Biển Đông, trực tiếp bảo vệ tự do hàng hải cũng như các lợi ích khác của Mỹ ở Biển Đông.
Với việc Ngoại trưởng Mỹ Hi-la-ry Clin-tơn ký vào Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác của ASEAN tháng 7/2009, dường như Mỹ đã chấm dứt một giai đoạn thả nổi chính sách khu vực và bắt đầu tăng cường sự tham gia vào những vấn đề quan trọng của khu vực này. Với tuyên bố của Ngoại trưởng Hi-la-ry Clin-tơn tại Thái Lan, tháng 7-2009 và tại hội nghị ARF tháng 7-2010 ở Hà Nội về lợi ích quốc gia của Mỹ ở Biển Đông, Mỹ đã chuyển từ lập trường xao nhãng sang một chính sách mới, tích cực quan tâm về Biển Đông. Tuy nhiên, dường như Mỹ đang trong tình thế tiến thoái lưỡng nan về an ninh trong quan hệ với Trung Quốc, thể hiện rõ trong việc mỗi bên đều đặt dấu hỏi về động cơ phía sau thế trận quân sự của bên kia ở châu Á - Thái Bình Dương, trong đó một cường quốc muốn giữ nguyên trạng, còn cường quốc kia muốn thay đổi thực trạng. Do đó, khoảng cách về lợi ích, giá trị và khả năng giữa Mỹ và Trung Quốc sẽ ngăn cản hai nước tiến đến một khối siêu quyền lực, có thể cùng nhau dàn xếp các vấn đề an ninh khu vực và thế giới. Cũng vì thế mà khả năng đổi chác và nhân nhượng giữa hai nước ở Biển Đông là rất khó xảy ra kể cả việc đó vốn là bản chất quan hệ nước lớn mà thay vào đó là sự cạnh tranh dưới nhiều hình thức khác nhau giữa Mỹ và Trung Quốc trong những năm tiếp theo.
Triển vọng
Kết thúc năm 2010 đầy biến động về kinh tế lẫn chính trị, bản đồ địa chính trị châu Á đang được định hình lại với sự nổi lên của Trung Quốc và sự quay trở lại của Mỹ trong khu vực. Trong đó nổi lên ba xu thế chủ đạo trong cấu trúc an ninh của khu vực châu Á. 
Xu hướng chủ đạo đầu tiên là cấu trúc an ninh khu vực vẫn còn phụ thuộc vào hệthống liên minh an ninh Trục và nan hoa do Mỹ lãnh đạo. Ngoài những liên minh an ninh Mỹ - Nhật, Mỹ - Hàn, Mỹ - Ô-xtrây-li-a, đối tác an ninh là một bước phát triển mới giữa Mỹ và các nước trong khu vực. Mối quan hệ này bao gồm những cuộc tập trận chung, huấn luyện, chia sẻ thông tin tình báo, bán vũ khí, trao đổi các phái đoàn quân sự... Quan hệ đối tác an ninh, không bắt buộc một bên phải bảo vệ bên kia, đã hình thành giữa Mỹ với Ấn Độ, Xin-ga-po, Pa-ki-xtan và gần đây gồm cả Việt Nam, Ma-lai-xi-a và In-đô-nê-xi-a. Nhìn chung trong cấu trúc an ninh châu Á, Mỹ vẫn duy trì vai trò đầu tàu. Điều này còn được thấy rõ ở việc Mỹ biến đảo Gu-am thành căn cứ quân sự lớn nhất của Mỹ trên thế giới với tất cả các loại vũ khí và hệ thống vũ khí hiện đại mà Mỹ có. Chuyển động đến Thái Bình Dương là một phần trong kế hoạch tái bố trí lại lực lượng Mỹ từ Tây (châu Âu) sang Đông (châu Á).
Xu hướng thứ ha là vai trò ngày càng tăng của Trung Quốc trong các mối quan hệ ngoạigiao trong những năm gần đây. Trung Quốc đang làm hết sức để đặt các mối quan hệ song phương trong khu vực, kể cả với Nhật Bản, trên nền tảng tốt hơn. Sự cạnh tranh giữa Trung - Mỹ - Nhật, ba nền kinh tế lớn nhất thế giới, đang mở ra những cơ hội và thách thức rất lớn. Sự vận động trong quan hệ Mỹ - Trung là điều đáng quan tâm nhất hiện nay. Điều này đang xảy ra vì ảnh hưởng của Trung Quốc hiện nay đang tăng lên ở nhiều nơi trên thế giới. Trong chuyến thăm châu Á năm 2010, Ngoại trưởng Mỹ Hi-la-ry Clin-tơn kêu gọi Trung Quốc hợp tác về các vấn đề an ninh phi truyền thống như biến đổi khí hậu, an ninh năng lượng, kiểm soát vũ khí và ổn định tài chính toàn cầu. Dư luận đang đặt câu hỏi liệu quan hệ Mỹ - Trung Quốc sẽ đi về đâu?
Xu hướng thứ ba: cấu trúc khu vực đa tầng và cộng đồng an ninh châu Á đang nổi lên. Cấu trúc này bao gồm nhiều diễn đàn đối thoại, đối thoại chính phủ và phi chính phủ, như Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF), ASEAN+3, Hội nghị thượng đỉnh Đông Á, Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN mở rộng (ADMM+) và gần đây là Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) ... Trong khi Chính quyền Bu-sơ trước đây không chú ý nhiều đến cấu trúc này, thậm chí không đánh giá cao nó, thì Chính quyền Ô-ba-ma đã phát tín hiệu cho thấy họ nghiêm túc quan tâm đến cơ chế này. Nhìn tổng thể, không giống trước đây, hiện nay Mỹ đang ngày càng mở cửa với các tổ chức đa phương của châu Á.
Tóm lại, với chính sách trở lại Đông Nam Á của mình, Mỹ đang thể hiện một vai trò tích cực trong việc đảm bảo cân bằng sức mạnh tại Biển Đông, duy trì môi trường an ninh, hòa bình và ổn định trong khu vực. Qua đó, giúp Mỹ có thể trực tiếp bảo vệ tự do hàng hải và những lợi ích quan trọng khác của Mỹ ở Biển Đông./.
Tài liệu tham khảo chính
- “Biển Đông : quan điểm từ Hoa Kỳ” của GS. Bronson Percival, cố vấn cao cấp trung tâm chến lược CAN (trước đây là trung tâm phân tích hải quân), Virginia, Hoa Kỳ;
   - Nhân tố Mỹ và những ảnh hưởng trong tranh chấp biển Đông (Tạp chí châu Á - Thái Bình Dương đương đại, Trung Quốc - Số 1-2010); Các vấn đề quốc tế số 8-2010;
- Michael A. Becker, The Shifting Public Order of the Oceans: Freedom of Navigation and the Interdiction of Ships at Sea;
- Ralph A. Cossa, Brad Glosserman, Michael A. McDevitt, Nirav Patel, James Przystup, Brad Roberts, “The United States and the Asia-Pacific Region: Security Strategy for the Obama Administration”, tháng 2-2009, pp.10, 15;
- Ralph A. Cossa, “Security Implications of Conflict in the South China Sea: Exploring Potential Triggers of Conflict”, A Pacific Forum CSIS, tháng 3-1998, tr.7.;
- Ralph A. Cossa, Security Implications of Conflicting the South China Sea: Exploring Potential Triggers of Conflict;
- Mohamed Jawhar bin Hassan, “Disputes in the South China Sea: Approaches for Conflict Management” in D. da Cunha (ed.) Southeast Asian Perspctives on Security, Singapore, Seng Lee Press, 2000”, tr. 100;
- Thrassy N. Marketos, 2009. China’s Energy Geopolitics: the Shanghai Cooperation Organization and Central Asia. Taylor & Francis Routledge.

"Nam - Bắc và Đông - Tây "

"Nam - Bắc và Đông - Tây "


BBT: Khoa Quốc tế học xin giới thiệu bài của Ông Dương Trung Quốc phát biểu trong hội thảo "Engaging with Vietnam: An interdisciplinary dialogue" ngày 4-5 tháng 12 năm 2011, đã được chỉnh sửa và đăng trong báo điện tử Lao động cuối tuần.
Ông Dương Trung Quốc trình bày tại hội thảo. (Nguồn ảnh: Thành Long/USSH)
Mới rồi, cuộc hội thảo khoa học quốc tế nghiên cứu về Việt Nam lần thứ III, một tiếp xúc khoa học truyền thống giữa các nhà nghiên cứu về Việt Nam đến từ nhiều nước trên thế giới do hai trường đại học của Việt Nam (Khoa học Xã hội & Nhân văn Hà Nội) và Australia (Monash) chủ trì được tổ chức tại Hà Nội.
Được mời tới làm khách thuyết trình chủ đề “Giao lưu Đông - Tây với vai trò người trí thức” như lời giáo đầu cho cuộc trao đổi, lại thấy ngồi dưới có nhiều chuyên gia hàng chót vót như GS Carlyle Thayer (Học viện Quốc phòng Australia) hay TS Charles Morisson (Giám đốc Trung tâm Đông - Tây, Hoa Kỳ) v.v... tự hỏi sẽ nói gì về một vấn đề lớn của thời đại trong vòng có ba mươi phút.
Một trong những chủ đề của cuộc trao đổi này đề cập tới vai trò của tầng lớp trí thức địa phương có mối liên hệ như thế nào với cuộc tiếp xúc Đông - Tây, tập trung ở Châu Á trong bối cảnh toàn cầu hoá... Vì thế nên không thể không đề cập tới những nét riêng của trí thức Việt Nam được hình thành trong hoàn cảnh lịch sử như thế nào xuyên suốt trong lịch sử, về căn bản được chia ra làm hai giai đoạn: trong “Thế giới Trung Hoa” kéo dài hơn hai thiên niên kỷ và trong tiếp xúc với thế giới phương Tây trong đó có nước Pháp thời thực dân và phần còn lại của thế giới thực sự mới cách nay vài thế kỷ. Điều cần nhấn mạnh là với dân tộc Việt Nam, muốn nói đến giao lưu Đông - Tây thì không bao giờ được quên và tách nó ta khỏi quan hệ Nam - Bắc, không chỉ trong quá khứ, hiện tại và cả tương lai. Xin lược lại những gì đã nói để chia sẻ với bạn đọc cuối tuần.
Bàn đến quan hệ giao lưu Đông - Tây và vai trò người trí thức ngày nay trong cuộc giao lưu ấy, trước tiên không thể không nói đến quan hệ “Nam -Bắc”.
Quan hệ Nam -Bắc, diễn đạt cho cụ thể hơn là quan hệ giữa Việt Nam và Trung Hoa. Nước Việt Nam về lãnh thổ và tên gọi (quốc danh) trong lịch sử có nhiều lần thay đổi, nhưng về địa lý, luôn nằm ở phía Nam trong tương quan với Trung Hoa. Lãnh thổ và tên gọi nước Trung Hoa cũng vậy và nó luôn nằm ở phía Bắc nước Việt Nam.
Vì hoàn cảnh địa lý, núi liền núi, sông liền sông, chung một con đường biên giới trên đất liền và cùng có bờ biển hướng ra Thái Bình Dương về phía đông mà giữa hai quốc gia đã từng có cả những chung đụng và xung đột trong lịch sử hàng ngàn năm. Đó là một câu chuyện dài....
Chỉ có thể nói rằng, Việt Nam vốn nằm trong không gian của một cộng đồng rất to lớn của các tộc Việt sinh sống ở phía nam sông Dương Tử gọi chung là Bách Việt, gắn với nền văn minh lúa nước và đã đạt tới một trình độ văn minh khá cao, mà với những tộc Việt là tổ tiên trực tiếp của dân tộc Việt Nam ngày nay, đó là nền Văn hoá Đông Sơn với biểu tượng là những chiếc trống đồng tinh tế, gắn với huyền thoại về thời kỳ dựng nước của dân tộc Việt Nam, tương ứng với một giai đoạn lịch sử cách nay chừng hơn hai thiên niên kỷ rưỡi.
Nhưng rồi với sức bành trướng của người Hán từ phía trên sông Dương Tử tràn xuống phương Nam, hầu hết các tộc trong Bách Việt, kể cả lãnh thổ của các Vua Hùng và những triều đại kế tiếp đều bị thôn tính vào trong đế chế rộng lớn từ phương Bắc tràn xuống này. Nền cai trị kéo dài hơn một thiên niên kỷ với một chính sách đồng hoá khắc nghiệt và triệt để đến mức, cho đến ngày hôm nay người Việt Nam hiện đại vẫn đứng trước câu hỏi: liệu trước khi bị người Hán đô hộ, người Việt đã có chữ viết của mình chưa? Và những tầng lớp tinh hoa của cộng đồng là ai ngoài những ý niệm về các thủ lĩnh quân sự?
Với một ngàn năm Bắc thuộc, sự có mặt của ngưòi Hán vừa là kẻ cai trị, vừa là người đến định cư và hoà trộn thành phần dân cư với người Việt bản địa đã tạo ra một cộng đồng dân cư mà hạt nhân là người Kinh, một thành phần đa số và có vị thế ngày càng quan trọng trong quá trình phát triển của dân tộc Việt Nam. Văn minh phương Bắc ban đầu là sự áp đặt thuần tuý của kẻ đến từ bên ngoài và thống trị. Nhưng với hơn một ngàn năm, những nhân tố tích cực ưu trội của nền văn minh này được du nhập và được tiếp nhận. Tổ tiên chúng ta một mặt không ngừng tìm cơ hội để thoát ra khỏi ách thống trị của đế chế phương Bắc về phương diện chính trị (mà những tên tuổi của Hai Bà Trưng, Bà Triệu v.v... là biểu tượng), nhưng cũng chấp nhận nhiều giá trị có nguồn gốc từ phương Bắc. Việc sử dụng chữ Hán như một ngôn ngữ viết chính thức là một bằng chứng. Nguời Việt sẵn lòng tôn vinh viên quan cai trị nhà Hán Sĩ Nhiếp là “Nam Giao học tổ” lập đền thờ phụng; các nhân vật cai trị khác như Tích Quang, Nhâm Diên cũng được tôn trọng tương tự...
Trên phương diện văn hoá, người Việt tiếp nhận những giá trị văn hoá phương Bắc để làm phong phú cho chính mình nhưng không chấp nhận bị đồng hoá. Do vậy, trong khi chấp nhận Hán tự làm chữ viết thì vẫn nói tiếng nói riêng của mình. Đã có những nỗ lực của các nhà trí thức Việt Nam sáng tạo ra “chữ Nôm” trên cơ sở sử dụng các bộ nét trong chữ Hán tượng hình để định dạng ghi lại tiếng nói của mình. Chữ Nôm đã phát triển một cách mạnh mẽ tuy chưa đạt tới sự hoàn thiện nhưng là một biểu hiện của bản lĩnh và năng lực bảo tồn và sáng tạo văn hoá riêng của người Việt Nam trong hoàn cảnh sống cạnh và bị sự đô hộ của một đế chế sở hữu một nền văn minh lớn như Trung Hoa.
Trong thời kỳ lịch sử dài hơn thiên niên kỷ này, bên cạnh các quan lại người Hán, hẳn đã hình thành một tầng lớp “tinh hoa” trong cộng đồng những người dân bị trị cũng như một bộ phận quan lại, tầng lớp trên có xu hướng ly khai với nền đô hộ của triều đình phương Bắc diễn ra trước thời tự chủ bắt đầu từ Ngô Quyền (938), như Dương Đình Nghệ, các nhà lãnh đạo họ Khúc... Phải chăng những người dẫn đạo tinh thần tự chủ của người Việt Nam thời đó là những trí thức đầu tiên (!?). Sứ mệnh của họ là từ trong cơ chế chính trị đương thời chống lại sự đô hộ của ngoại bang không chỉ bằng bạo lực mà bằng cả các tri thức, trong đó có cả những tri thức của nền văn minh của chính kẻ đã thống trị dân tộc mình.... Đó chính là nét phác hoạ đầu tiên về sứ mệnh tiếp nhận văn hoá bên ngoài cho nội lực dân tộc của một tầng lớp xã hội mà sau này ta gọi là trí thức.
Dần từng bước, cùng với sự truyền bá đạo Phật vào Việt Nam, tầng lớp tăng lữ của tôn giáo có đặc trưng nhập thế rất sâu sắc này đã trở thành một lực lượng trí thức dân tộc, đồng hành cùng dân tộc thúc đẩy quá trình xây dựng nền tự chủ quốc gia. Sau Ngô Quyền, vị tổ trung hưng thứ nhất xác lập nền tự chủ bằng chiến thắng Bạch Đằng (938), lần lượt các triều Đinh và (Tiền) Lê tuy ngắn ngủi nhưng từng bước củng cố nền tự chủ bằng việc thống nhất lực lượng dân tộc và tiếp tục khẳng định nền tự chủ ấy bằng sự nghiệp chống mưu toan thôn tính trở lại của phương Bắc (lúc này là nhà Tống).
Năm ngoái (năm 2010), Việt Nam tổ chức trọng thể 1000 năm Vua Lý Thái Tổ rời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long (nay là Hà Nội) như một sự kiện có ý nghĩa đặc biệt. Vị vua này không có chiến công của người giành độc lập từ tay ngoại bang nhưng lại là người có một tầm nhìn vượt lên trên các bậc tiền bối. Điều đó thể hiện qua việc lựa chọn nơi định đô ngay sau khi lên ngôi. Qua việc Ngài không chấp nhận kinh đô Hoa Lư của các triều Đinh, (Tiền) Lê và cũng không trở về Cổ Loa có từ thời An Dương Vương mà vị tổ trung hưng Ngô Quyền sau khi lập lại nền tự chủ đã lựa chọn như sự “nối lại quốc thống”.
Lý Công Uẩn đã chọn Đại La, nơi chính quyền đô hộ Trung Hoa mà tiêu biểu là viên quan cai trị Cao Biền đặt trị sở, làm kinh đô của nước Đại Việt tự chủ, cho thấy một tầm nhìn sáng suốt của vị vua sáng lập triều Lý, mà đứng đằng sau là các vị tăng lữ Phật giáo tiêu biểu như sư Vạn Hạnh. Tầm nhìn ấy dựa trên một nguyên lý sáng suốt, đó là: Dân tộc Việt Nam thường trực phải đối phó với nước láng giềng phương Bắc không phải chỉ là một thế lực bành trướng, một nguy cơ bị xâm lăng mà còn là một nền văn minh lớn và một cơ hội để chúng ta có thể tiếp thu những tinh hoa từ bên ngoài nhằm làm giàu chính nền văn hiến của dân tộc mình.
Chính là nhà Lý đã đưa Khổng Tử về thờ (lập Văn Miếu), tổ chức các kỳ thi chữ Hán, học Tứ Thư, Ngũ Kinh của phương Bắc để tuyển chọn nguồn nhân lực cho quốc gia (Quốc Tử Giám) v.v... Nhưng cũng chính nhà Lý đã tuyên ngôn “Nam Quốc sơn hà Nam đế cư...”. Cũng như sau này là nhà Lê, lập triều từ việc chấm dứt ách cai trị 20 năm của phương Bắc (nhà Minh), lại là triều đại tiếp nhận một cách mạnh mẽ những ảnh hưởng văn hoá của phương Bắc, đặc biệt là trong việc xây dựng thiết chế chính trị của nhà nước trung ương. Lại cũng chính nhờ vậy mà triều Lê dù trải qua nhiều thăng trầm nhưng gìn giữ được bờ cõi hơn 3 thế kỷ phương Bắc không lai vãng. Hơn thế, chính trong thời kỳ lịch sử này, bờ cõi được mở mang về phương Nam với công lao của các Chúa Nguyễn. Việc mở mang này vô cùng quan trọng không chỉ về không gian lãnh thổ mà là sự tiếp nhận nhiều nguồn văn hoá mới “phi Trung Hoa” từ phương Nam (Ấn Độ và hải đảo Đông Nam Á cùng những nền văn hóa bản địa của những vùng đất mới).
Đây cũng là một quá trình lâu dài hình thành tầng lớp nho sĩ thành đạt với đội ngũ quan lại và đông đảo những nhà nho gần gũi với nhân dân ở các làng xã có ảnh hưởng sâu sắc trong việc tiếp thu có chọn lựa những nhân tố tích cực của văn hoá Trung Hoa, gây dựng cũng như bảo tồn những giá trị văn hoá bản địa và tạo dựng thành truyền thống. Vai trò tầng lớp trí thức này là vô cùng to lớn tạo nên nền văn hiến Đại Việt, nền tảng của tinh thần dân tộc và sức mạnh nội lực giúp Việt Nam tồn tại cạnh Trung Hoa như một quốc gia tự chủ về chính trị và thân thiện về văn hoá.
Quan hệ Nam - Bắc ấy đã chi phối như nhân tố chủ đạo của một trường kỳ lịch sử xuyên suốt lịch sử và cho đến ngày nay vẫn còn là một yếu tố không thể bỏ qua cho dù thời đại đã có rất nhiều thay đổi.
Cho dù người phương Tây đã đến Việt Nam từ sớm hơn thông qua việc truyền giáo hay buôn bán nhưng về căn bản cho đến thế kỷ thứ XVIII, Việt Nam vẫn bị bao trùm trong “thế giới Trung Hoa” mà những trí thức Việt Nam vẫn phải “ngụp lặn” vừa để ứng phó chống trả, vừa nương dựa vào những giá trị của nó để tiếp thu, học hỏi... Trải nghiệm lịch sử ấy đã tạo nên một bản lĩnh cũng như sắc thái của tầng lớp trí thức Việt Nam, sẽ đi tiếp trong một thử thách mới khi một “thế giới ngoài Trung Hoa” đã cận kề.
Ý niệm về mối quan hệ “Đông -Tây” hình thành vào thời điểm mà sự truyền giáo cũng như cuộc chinh phục thuộc địa từ các quốc gia Châu Âu đã bước qua thời kỳ tư bản chủ nghĩa sang những phần đất còn lại của thế giới, đặc biệt là với 2 nền văn minh lớn (Trung Hoa, Ấn Độ) và rộng hơn là Châu Á trong đó có Việt Nam.
Có thể tiếp cận với nền văn minh mới mẻ này đầu tiên là những tín đồ Thiên Chúa giáo hay các nhà buôn vốn không mạnh ở nước ta, cùng với nhà cầm quyền luôn e ngại những yếu tố mới, xa lạ, nằm ngoài những khuôn vàng thước ngọc của thánh hiền chỉ có thể là man-di-mọi-rợ lấy sự khước từ làm phản xạ ban đầu.
Cũng chính vì thế mà người trí thức trong bộ máy quan lại, trong dân gian và trong hàng ngũ giáo dân đóng một vai trò rất quan trọng để tạo ra những đột phá trong việc tiếp nhận và giao lưu văn hoá với phương Tây.
Cần phải nói thêm rằng, ngay từ phía phương Tây cũng sớm đưa ra nhận thức cực đoan “Đông là Đông, Tây là Tây” như một sự phân ranh không suy xuyển và cùng với nó là quan niệm “phương Tây chinh phục phương Đông” của chủ nghĩa thực dân.
Tuy nhiên, đối với Việt Nam, như trên đã nói, một dân tộc từng chịu ảnh hưởng của văn minh Trung Hoa rất sâu sắc nhưng trong tâm thức lại luôn muốn thể hiện mình khác Trung Hoa và luôn tìm cơ hội để tách dần ra khỏi ảnh hưởng Trung Hoa mà trước tiên là thoát khỏi ách đô hộ về chính trị.
Đàng Trong (nơi các Chúa Nguyễn lập nghiệp và mở mang bờ cõi) không chỉ xa về địa lý với Trung Hoa, cát cứ với triều đình trung ương mà còn đựơc tiếp nhận các nền văn minh “phi Trung Hoa” nên nó cũng rất nhạy bén khi tiếp xúc với văn minh phương Tây. Cùng thời với Phố Hiến ở Đàng Ngoài, Hội An ở Đàng Trong là cửa ngõ hướng ra bên ngoài, trong đó có các thành phần phương Tây (nhà truyền giáo, nhà hàng hải, thương nhân...).
Nhưng, chính Hội An ở Đàng Trong lại là cái nôi tiếp nhận những giá trị văn minh phương Tây mạnh mẽ và tiêu biểu là sự ra đời của chữ viết sau này đuợc gọi là quốc ngữ tại đây. Nhu cầu truyền giáo buộc phải đi tìm cây cầu ngôn ngữ để thâm nhập vào cư dân và xã hội bản địa. Các nhà truyền giáo Tây ban Nha, Bồ Đào Nha, Italia, Pháp… đã tìm đến chữ latinh làm công cụ ghi âm tiếng nói của dân bản địa và truyền đạo.
Cũng giống như quan hệ Nam -Bắc, quan hệ Đông - Tây ở Việt Nam cũng khắc nghiệt bởi cho dù có yếu tố truyền giáo hay thương mại... thì chủ yếu vẫn diễn ra trong bối cảnh của chủ nghĩa thực dân phương Tây tiến hành chinh phục bằng bạo lực và xâm chiếm thuộc địa ở phương Đông (Viễn Đông) mà ở Việt Nam là chủ nghĩa thực dân Pháp.
Phạm Duy tốn, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh là những trí thức Tây học theo chủ nghĩa ôn hòa. Ảnh: TL
Cũng giống như trong quá khứ, quan hệ Đông-Tây, ban đầu là một sự kháng cự có phần tuyệt vọng bằng bạo lực. Chủ nghĩa thực dân phản động khi xâm lăng, và đô hộ dân tộc khác nhưng khách quan nó cũng lại truyền bá nền văn minh phương Tây tiên tiến và nhân bản. Triều đình Việt Nam sau những kháng cự bán đầu đã từng bước khiếp nhược trước sức mạnh, vũ khí phương Tây và chấp nhận sự đầu hàng. Ngay trong giới trí thức quan lại cũng bị chia rẽ sâu sắc trước câu hỏi “Chủ chiến hay chủ hoà?”. Tầng lớp trí thức trong dân cũng đứng trước câu hỏi “duy tân hay thủ cựu”.
Những vấn đề liên quan đến sự lựa chọn thái độ với văn minh phương Tây - sự cộng tác hay chống đối sự cai trị của chế độ thực dân luôn là một vấn đề sát sườn của giới trí thức cận đại. Những Nguyễn Trường Tộ, Trương Vĩnh Ký hay Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh... luôn là những trường hợp có sự đánh giá trái chiều...
Thời cận và hiện đại gắn với công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc luôn tạo ra thử thách cho giới trí thức, trong đó có giới trí thức Tây học, được đào tạo trong nền giáo dục Pháp (ở thuộc địa hay chính quốc)... Khỏi phải phân tích dài dòng, cùng với thời gian càng ngày chúng ta càng nhận ra, về căn bản những người trí thức đều quy tụ về một mối là hướng tới dân tộc bằng cách tiếp cận với văn hoá phương Tây, vì với nền văn hoá ấy, chủ nghĩa thực dân chỉ là một hiện tượng lịch sử, còn những giá tri tiến bộ, giá trị căn bản của một nền văn minh luôn là nguồn lực cho sự phát triển, nhất là với văn minh phương Tây, những giá trị Dân chủ là một ưu thế mang tính chất tiên phong.
Hiện tượng “chữ quốc ngữ” là một thí dụ: ban đầu, với các nhà truyền giáo nó là công cụ truyền bá, với thực dân nó là công cụ hành chính và phương thức để gạt dần ảnh hưởng của Trung Hoa, nhưng với người Việt Nam thì đó là công cụ để hội nhập với thế giới ngoài Trung Hoa, hướng tới những giá trị tiên tiến của phương Tây nên rất nhanh chóng được chấp nhận, phát triển thành ngôn ngữ xã hội và nghệ thuật để rồi trở thành “quốc ngữ”, ngôn ngữ chính thống kể từ khi nước Việt Nam độc lập (1945).
Nhân vật Hồ Chí Minh có thể là một biểu tượng tập trung của sự hình thành , lựa chọn và hành động của trí thức Việt Nam thời hiện đại mà vấn đề trung tâm là sứ mạng giải phóng dân tộc. Sự sa sút của tầng lớp nho sĩ nhanh chóng đựơc thay thế bằng những trí thức tân học (Tây học)... gánh vác những đòi hỏi phát triển của xã hội.
Lẽ ra, tại cuộc hội thảo này phải nói về vai trò của tầng lớp trí thức trong cuộc giao lưu Đông - Tây hiện tại, nhưng là một nhà sử học tôi chỉ muốn nói rằng, trong mọi sự phát triển, những di sản của quá khứ luôn có mặt như một sự lựa chọn giữa bảo thủ và truyền thống. Ứng xử trong mối quan hệ Nam - Bắc đã giúp cho dân tộc Việt Nam tồn tại và trưởng thành bên cạnh nước Trung Hoa thì giải quyết tốt mối giao lưu Đông - Tây hiểu theo nghĩa hẹp của dân tộc Việt Nam vẫn là những truyền thống đã từng có trong quá khứ : tồn tại và trưởng thành, nhưng theo nghĩa rộng chính là sự hội nhập với toàn thế giới, cho dù ngày nay vẫn là một thế giới phức tạp và không ổn định.
Đã từng có thời “Đông là Đông -Tây là Tây”, lại có thời “Gió Đông thổi bạt Gió Tây” hay ngược lại... Ngày nay thế giới càng nhận thức được rằng Đông hay Tây đều là của chung nhân loại, một nhân loại chung sống trên một hành tinh ngày càng mỏng manh nếu những ngọn gió không chịu thổi thuận chiều... đó là chưa nói đến những biến đổi khí hậu mà Đông hay Tây đều phải chung tay ứng phó. Nếu tầng lớp trí thức là những người có trách nhiệm nhất với tương lai thì nó vẫn phải đi đầu trong cuộc vận động của lịch sử đương đại...”
Dương Trung Quốc

"Vai trò của Indonesia với tư cách là chủ tịch Asean năm 2011"

"Vai trò của Indonesia với tư cách là chủ tịch Asean năm 2011"


ài viết của PGS.TS.Phạm Quang Minh và sinh viên Hà Văn Long (khóa Qh-2009-X) được đăng trên tạp chí Quan hệ quốc phòng số 18, quý II năm 2012.
Kể từ khi ASEAN được thành lập vào năm 1967, cho đến nay, Indonesia được coi là thành viên có vai trò nòng cốt, đi tiên phong trong Hiệp hội, góp phần đưa ASEAN trở thành một tổ chức khu vực có tiếng nói quan trọng trên trường quốc tế. Tiếp nối những thành công đã đạt được trong quá khứ, trong năm 2011, Indonesia đã chính thức tiếp nhận vị trí Chủ tịch ASEAN từ tay Việt Nam, qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho quốc gia này tiếp tục khẳng định vị thế và vai trò của mình trong các vấn đề của khu vực và ASEAN.
Với tư cách là chủ tịch ASEAN, ngày 7/1/2011, Ngoại trưởng Indonesia TS. R.M. Marty M. Natalegawa đã đọc Thông cáo báo chí hàng năm nhấn mạnh vai trò lãnh đạo của Indonesia. Trong thông điệp đó, Ngoại trưởng Indonesia nhấn mạnh ba ưu tiên cơ bản trong chính sách đối ngoại của Indonesia với tư cách là chủ tịch ASEAN năm 2011. Một là, cố gắng đạt được những tiến bộ nổi bật trong việc xây dựng cộng đồng ASEAN; hai là Indonesia sẽ đảm bảo kiến trúc và môi trường khu vực sẽ tiếp tục được phát triển; ba là Indonesia sẽ khởi động quá trình về tầm nhìn cho giai đoạn hậu 2015 đưa cộng đồng ASEAN hòa nhập vào cộng đồng toàn cầu.[1] Bài viết này sẽ cố gắng đánh giá những kết quả mà Indonesia đã thực hiện được trong năm 2011 với tư cách là chủ tịch ASEAN. 
1. Trong lĩnh vực an ninh – chính trị
Trong vấn đề an ninh ở Biển Đông, với cương vị chủ tịch ASEAN, Indonesia đã nỗ lực thuyết phục thành công các nước ASEAN và Trung Quốc chính thức thông qua Quy tắc hướng dẫn thực thi Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC). Bản quy tắc này nêu rõ:
Thừa nhận rằng thực hiện toàn bộ và hiệu quả DOC sẽ đóng góp vào việc làm sâu sắc thêm quan hệ đối tác chiến lược ASEAN – Trung Quốc vì hoà bình và thịnh vượng; Những Quy tắc này nhằm hướng dẫn thực hiện các hoạt động, các biện pháp và các dự án hợp tác chung đã quy định trong DOC.
1. DOC phải được thực hiện từng bước một, phù hợp với các điều khoản của DOC.
2. Các bên tham gia DOC tiếp tục tăng cường đối thoại và tham vấn, phù hợp với tinh thần của DOC.
3. Việc tiến hành các hoạt động hoặc các dự án đã được quy định trong DOC cần được xác định rõ ràng.
4. Việc tham gia các hoạt động hoặc các dự án cần được thực hiện trên cơ sở tự nguyện.
5. Các hoạt động ban đầu trong phạm vi DOC cần phải là các biện pháp xây dựng lòng tin.
6. Quyết định thực hiện các biện pháp hoặc các hoạt động cụ thể của DOC cần dựa trên sự đồng thuận của các bên và phải hướng đến mục tiêu cuối cùng là thực hiện Bộ Quy tắc về ứng xử ở Biển Đông (COC).
7. Trong quá trình thực hiện các dự án đã được thỏa thuận trong khuôn khổ DOC, khi cần thiết, sẽ trưng cầu sự phục vụ của các chuyên gia, các nhân vật kiệt xuất nhằm cung cấp nguồn lực cụ thể đối với các dự án liên quan.
8. Tiến trình thực hiện các hoạt động và các dự án đã được thỏa thuận trong DOC sẽ được báo cáo hàng năm cho Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN – Trung Quốc (PMC).[2]
Việc ký kết Quy tắc này chứng tỏ các quốc gia thành viên ASEAN và Trung Quốc đã nhận thức được những lợi ích chung trong việc đảm bảo hoà bình, ổn định của khu vực, tầm quan trọng của xây dựng lòng tin, hướng tới Bộ Quy tắc về ứng xử ở Biển Đông (COC). Thực tế cho thấy, tại các hội nghị cấp cao do Indonesia tổ chức năm 2011, thành công lớn nhất là hầu hết tất cả các nước trong và ngoài ASEAN đều lên tiếng ủng hộ quan điểm về cách tiếp cận giải quyết đa phương, hòa bình, không sử dụng vũ lực trong tranh chấp ở Biển Đông.  
Bên cạnh những thành công trong vấn đề Biển Đông, Indonesia còn có vai trò hết sức quan trọng trong việc giải quyết tranh chấp giữa Thái Lan và Campuchia. Với cương vị chủ tịch ASEAN, Indonesia đã đưa ra một loạt sáng kiến, đồng thời trực tiếp làm trung gian hòa giải giữa Thái Lan và Campuchia. Trong những ngày giao chiến căng thẳng hồi tháng 2 và tháng 4 năm 2011 giữa hai nước, Indonesia đã cùng với Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc tổ chức một cuộc đối thoại với Thái Lan và Campuchia nhằm đi đến một thỏa thuận ngừng bắn. Tiếp sau đó, vấn đề tranh chấp biên giới giữa hai quốc gia đã được Indonesia đưa ra thảo luận trong khuôn khổ Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 18 diễn ra tại Indonesia. Chính các biện pháp ngoại giao đúng đắn, cùng với sức ảnh hưởng lớn trong vị trí Chủ tịch ASEAN, Indonesia đã làm tốt vai trò của “người hòa giải” và tìm ra tiếng nói chung trong vấn đề xung đột giữa Campuchia và Thái Lan. Cùng với sự thay đổi trong chính trường Thái Lan khi bà Yingluck chính thức nhậm chức thủ tướng, quan hệ giữa Thái Lan và Campuchia nồng ấm trở lại, các cuộc xung đột quanh khu đền Preah Vihear dần dần được kiềm chế. Hai bên đã chấm dứt xung đột, đưa ra những sáng kiến hợp tác, cùng phát triển trong các cuộc đối thoại sau đó.
Trong vấn đề vũ khí hạt nhân, Indonesia cũng thể hiện vai trò quan trọng trong Ủy ban Khu vực phi vũ khí hạt nhân ASEAN (SEANWFZ), khi tổ chức thành công các cuộc đối thoại trao đổi trong Hội nghị lần thứ tư của SEANWFZ ngày 18/7/2011 nhằm thảo luận về những kết quả mà Ủy ban SEANWFZ đã đạt được. Ngoài ra, Hội nghị cũng xem xét việc thực hiện Kế hoạch hành động (PoA) nhằm củng cố SEANWFZ, đồng thời đưa ra những đánh giá về những tiến bộ đạt được trong việc thực hiện PoA và những triển vọng trong việc hợp tác giữa SEANWFZ với các khu vực phi vũ khí hạt nhân khác. Không những vậy, trên cương vị chủ tịch ASEAN cùng với các quốc gia thành viên khác, Indonesia đã thuyết phục thành công các cường quốc hạt nhân trên thế giới bao gồm Mỹ, Anh, Nga, Trung Quốc và Pháp ngồi vào bàn đàm phán nhằm thuyết phục các quốc gia này tham gia vào Hiệp ước SEANWFZ. Nếu thành công, đây có thể sẽ là bước tiến lớn trong việc thực hiện việc phi vũ khí hạt nhân hoàn toàn tại khu vực Đông Nam Á và tiếp tục là bước đi lớn trong việc tạo dựng hình ảnh của một Đông Nam Á hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển.
Bên cạnh việc duy trì hòa bình trong khu vực thì việc tăng cường hợp tác an ninh cũng là một trong những mục tiêu lớn của các quốc gia trong ASEAN. Để góp phần thực hiện mục tiêu xây dựng cộng đồng an ninh ASEAN (ASC), Indonesia đã đưa ra chương trình hành động của ASC (ASCPoA) gồm sáu điểm: (1) Phát triển chính trị; (2) Xây dựng và chia sẻ các chuẩn mực; (3) Ngăn chặn xung đột; (4) Giải quyết xung đột; (5) Xây dựng hòa bình hậu xung đột; (6) Cơ chế thực hiện. Chương trình này thúc đẩy sự đoàn kết và hợp tác trong khu vực, tôn trọng quyền tự do dân chủ của mỗi quốc gia, trên nguyên tắc không can thiệp, giải quyết hòa bình những mâu thuẫn và tranh chấp, hợp tác chống khủng bố và tội phạm xuyên quốc gia.[3]Để thực hiện kế hoạch này, Indonesia đã thực hiện hàng loạt hoạt động, trong đó nhấn mạnh đến tự do hàng hải theo quy định của luật pháp quốc tế, bao gồm Công ước Liên hợp quốc năm 1982 về Luật Biển; khẳng định cam kết của các nước thành viên ASEAN thực hiện đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), hướng tới thông qua Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) để tiếp tục thúc đẩy hòa bình và ổn định trong khu vực. Ngoài ra, Indonesia cùng với các bên cũng đạt được sự nhất trí trong việc thành lập một ủy ban điều phối chung sử dụng tài sản quân sự ASEAN để trợ giúp nhân đạo và cứu trợ thiên tai; nhất trí với 3 đề xuất, gồm chương trình làm việc 3 năm của ADMM 2011-2013, thành lập mạng lưới các trung tâm giữ gìn hòa bình ASEAN và thiết lập cơ chế cộng tác về công nghiệp quốc phòng ASEAN. Bên cạnh đó Indonesia cũng đưa ra những ý kiến cho rằng ASEAN cần duy trì vai trò trung tâm của khối trong việc phát triển diễn đàn ADMM+ với các nước, như Mỹ, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, New Zealand và Australia, nhằm tăng cường hợp tác, đảm bảo an ninh, ổn định khu vực; khẳng định hiệu quả của các hoạt động như ngăn chặn cướp biển, buôn lậu và khủng bố, củng cố lòng tin của cộng đồng quốc tế đối với ASEAN. Ngoài ra, Indonesia cũng đã đưa ra kế hoạch khuyến khích các sỹ quan an ninh trong khu vực thực hiện các cuộc gặp chính thức và không chính thức để thảo luận về các vấn đề an ninh khu vực và nhấn mạnh sự cần thiết tăng cường hợp tác thiết thực trong ASEAN để đối phó với các vấn đề an ninh phi truyền thống và xung đột trong khu vực.[4] Ngoài ra, Indonesia cũng cho rằng cần phải tăng cường hợp tác an ninh nhiều hơn nữa giữa ASEAN với các nước trên thế giới nhằm hướng tới một môi trường hòa bình trong khu vực và ổn định cùng phát triển.
2. Trong lĩnh vực kinh tế
   Cùng với việc thúc đẩy xây dựng Cộng đồng An ninh (ASC), Indonesia cũng góp phần quan trọng vào việc xây dựng Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC). Để xây dựng Cộng đồng ASEAN nói chung, AEC nói riêng, Indonesia đã hoàn thiện và đưa ra chương trình hành động được công bố vào năm 2006, trong đó Indonesia đã cam kết thực hiện một số chủ trương sau: 1) Cải thiện hợp tác thương mại kinh tế và  đầu tư; 2) Cải thiện hợp tác về kỹ thuật và chuyển giao công nghệ; 3) Cải thiện việc tạo điều kiện thuận lợi cho hợp tác về nguồn nhân lực; 4) Phát triển hợp tác ASEAN; 5) Đẩy mạnh hợp tác chống tội phạm xuyên quốc gia; 6) Cải thiện hợp tác về việc dẫn độ giữa các nước ASEAN; 7) Cải thiện các mối quan hệ và hợp tác với các nước Châu Á – Thái Bình Dương; 8) Cải thiện sự hợp tác chiến lược của Indonesia với các nước Á – Phi; 9) Cải thiện hợp tác văn hóa – xã hội; 10) Bảo vệ lợi ích của Indonesia và cải thiện hợp tác trong việc ngăn ngừa tội phạm quốc tế.[5]
   Dựa trên các chương trình hành động đã nêu trên, bước sang năm 2011, trên cương vị chủ tịch ASEAN, Indonesia đã tích cực tham gia thực hiện các chương trình dự án, đóng góp các sáng kiến phát triển kinh tế của ASEAN. Trong đó đáng chú ý, tại hội nghị Bộ trưởng Kinh tế các nước ASEAN (AEM) lần thứ 43 diễn ra trong 2 ngày 10 – 11 năm 2011 tại Manado, Indonesia với chủ đề “Cộng đồng ASEAN trong một Cộng đồng toàn cầu” (ASEAN Community in a Global Community of Nations), Indonesia đã đưa ra ba sáng kiến quan trọng nhằm tăng cường hơn nữa sự phát triển của AEC, đồng thời tạo đà quan trọng trong việc hiện thực hóa Cộng đồng ASEAN: thứ nhất, cùng nhau hướng tới một khu vực công bằng và bình đẳng về kinh tế; thứ hai, tiếp tục thực thi và tăng cường các thỏa thuận đã đạt được trong AFTA nhằm hướng đến sự tự do hóa thương mại trước sự thay đổi của cấu trúc khu vực, đồng thời, thực thi các sáng kiến của ASEAN nhằm đóng góp cho sự phát triển chung của toàn cầu; thứ ba, xác định “tầm nhìn mới” của ASEAN sau “tầm nhìn 2015”.[6] Những sáng kiến này của Indonesia đã được Bộ trưởng kinh tế các nước trong ASEAN ủng hộ và thông qua. Điều này cho thấy uy tín và tầm ảnh hưởng lớn của Indonesia trong Hiệp hội, qua đó tạo lên động lực quan trọng trong sự hợp tác và phát triển kinh tế của khu vực Đông Nam Á.
   Đối với Indonesia, hợp tác thương mại ngoại khối là phương tiện thúc đẩy nền kinh tế ASEAN phát triển, bởi nền kinh tế của các nước ASEAN phụ thuộc vào một số ít mặt hàng xuất khẩu. Vì thế trong giai đoạn phát triển mới của nền kinh tế thế giới, ASEAN và các nước đối thoại vẫn duy trì được mối quan hệ tốt đẹp, là những bạn hàng lớn của nhau. Đối với EU, một bạn hàng truyền thống của ASEAN, giữa hai bên đã có sự hợp tác mở rộng kinh tế thương mại, xúc tiến xây dựng Hiệp định tự do thương mại (FTA). Vì thế, quan hệ kinh tế, thương mại và đầu tư giữa ASEAN và EU đang phát triển mạnh mẽ trong những năm vừa qua. EU đã trở thành đối tác thương mại lớn thứ hai của ASEAN với tổng giá trị thương mại hai chiều năm 2009 là gần 172 tỷ đô la Mỹ, chiếm 11,6% tổng giá trị thương mại của ASEAN. EU cũng là nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) lớn vào ASEAN với lượng vốn đầu tư chiếm gần 20% tổng giá trị FDI mà ASEAN nhận được[7]. Riêng với Indonesia, kim ngạch thương mại hai chiều giữa Indonesia và EU năm 2010 đạt trên 20 tỷ euro, trong đó xuất khẩu của Indonesia sang EU chiếm gần 14 tỷ euro. Hiện có hơn 700 doanh nghiệp EU đầu tư trên 50 tỷ euro vào Indonesia, thu hút hơn 500.000 lao động trong các ngành dược phẩm, ngân hàng và chế tạo…[8]Liên kết giữa ASEAN và EU dựa trên sự kết hợp giữa hai cấu trúc kinh tế mang tính bổ sung mạnh mẽ. ASEAN hội tụ sức mạnh của các nền kinh tế đang phát triển, năng động bậc nhất trong khu vực Đông Nam Á trong khi EU có ưu thế về công nghệ, vốn, kinh nghiệm của những nền kinh tế phát triển có chiều sâu. Đây là động cơ quan trọng bậc nhất để ASEAN và EU trở thành hai đối tác kinh tế lớn, quan trọng của nhau. Bên cạnh đó, cả ASEAN và EU dù ở những cấp độ hội nhập khác nhau, đều hướng đến việc xây dựng các không gian kinh tế khu vực thống nhất với quy mô to lớn, là động lực cho phát triển thương mại và đầu tư. Thông qua những nỗ lực song phương cũng như giữa hai khu vực, ASEAN và EU đang từng bước kết nối một không gian kinh tế của 1,1 tỷ người tiêu dùng và khoảng 19 nghỉn tỷ đô la. Yếu tố này càng có ý nghĩa đặc biệt hơn khi ASEAN đang hoàn tất những bước cuối cùng để thành lập cộng đồng kinh tế vào năm 2015, trở thành một không gian sản xuất thống nhất, một thị trường chung của khu vực Đông Nam Á.
   Tại Hội nghị tham vấn các Bộ trưởng Kinh tế ASEAN và Cao ủy Thương mại EC vào tháng 8 năm 2010, hai bên đã nhất trí triển khai “Sáng kiến về thương mại và đầu tư” nhằm thắt chặt quan hệ đối tác kinh tế, tăng cường trao đổi thông tin và đối thoại chính sách trong những lĩnh vực liên quan.Trên cơ sở sáng kiến này, Indonesia đã phối hợp với các nước ASEAN và EU xây dựng “Chương trình làm việc về thương mại và đầu tư ASEAN-EU”. Chương trình làm việc này đã được các Bộ trưởng Kinh tế ASEAN và Cao ủy Thương mại EC thông qua tại Hội nghị Tham vấn AEM-Cao ủy Thương mại EC lần thứ 10 vào tháng 5 năm 2011. Chương trình làm việc này sẽ làm cơ sở cho các hoạt động phối hợp đa dạng, toàn diện nhằm đẩy mạnh hợp tác giữa hai khu vực. Đây sẽ là nền tảng để hai bên tiếp tục phát huy mối quan hệ tin cậy và bền vững hơn. Chương trình gồm các hoạt động chính (1) Hội nghị hàng năm giữa các Bộ trưởng kinh tế ASEAN và Cao ủy Thương mại EC, (2) Diễn đàn thượng đỉnh kinh doanh ASEAN-EU, (3) Đối thoại ở cấp quan chức cấp cao và cấp kỹ thuật về những vấn đề hai bên cùng quan tâm và (4) Các chương trình hợp tác kinh tế hiện có khác.
   Bên cạnh việc thông qua Chương trình làm việc này, Indonesia cũng đã tổ chức thành công Diễn đàn thượng đỉnh kinh doanh ASEAN-EU lần đầu tiên vào ngày 5 tháng 5 năm 2011 nhằm tạo cầu nối cho các doanh nghiệp, nhà đầu tư gặp gỡ, giao lưu, trao đổi các cơ hội kinh doanh và đầu tư, đồng thời đây cũng cơ hội để các doanh nghiệp gặp gỡ trực tiếp, đối thoại và nêu lên các đề xuất của mình với các Bộ trưởng kinh tế của ASEAN và EU.
3. Trong lĩnh vực văn hóa-xã hội và các lĩnh vực khác
Bên cạnh chính trị-an ninh và kinh tế, Indonesia cũng rất coi trọng việc hợp tác trong lĩnh vực văn hóa – xã hội. Với mục tiêu xây dựng Cộng đồng Văn hóa – Xã hội ASEAN (ASCC), Indonesia và các nước thành viên mong muốn có một Đông Nam Á gắn bó với nhau như một cộng đồng gồm các xã hội đùm bọc và mang bản sắc chung. Để ASCC sớm trở thành hiện thực, Indonesia đã có nhiều hoạt động và sáng kiến quan trọng trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực y tế. Y tế là một trong những thế mạnh của Indonesia. Nước này đã đóng góp nhiều sáng kiến cho việc phát triển y tế của ASEAN. Hợp tác y tế của ASEAN chủ yếu trong khuôn khổ cuộc họp của các quan chức cao cấp về phát triển y tế (SOMHD) và cuộc họp bộ trưởng y tế ASEAN (AHMM). Gần đây, hai vấn đề được đưa ra thảo luận nhiều nhất là phát triển y học cổ truyền và phòng ngừa các bệnh truyền nhiễm. Indonesia đã đóng góp vai trò tích cực khi dựa trên cơ sở đặc thù các loại thuốc sẵn có ở Indonesia để đề xuất việc đưa thuốc truyền thống, các chế phẩm bổ sung vitamin và khoáng chất, các chế phẩm thay thế vào hệ thống y tế quốc gia. Trong lĩnh vực ngăn ngừa bệnh truyền nhiễm, Indonesia đã thể hiện vai trò quan trọng của nước điều phối mạng giám sát bệnh của ASEAN nhằm trợ giúp trao đổi thông tin về các bệnh truyền nhiễm xảy ra trong khu vực.
Trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, tại hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 19, các nhà lãnh đạo cấp cao trong khu vực đã nhấn mạnh đến vấn đề bảo vệ môi trường và sử dụng bền vững nguồn nước, trong đó nhấn mạnh cần phải ưu tiên cao và đầu tư thích đáng cho hợp tác và nâng cao năng lực khu vực quản lý thiên tai, ứng phó hiệu quả với các thách thức đang nổi lên, trong đó có triển khai hiệu quả Hiệp định ASEAN về quản lý thiên tai và cứu trợ khẩn cấp (AADMER) cũng như đảm bảo Trung tâm Điều phối trợ giúp nhân đạo về Quản lý thiên tai, sau khi được thành lập sẽ hoạt động tích cực và hiệu quả. Bên cạnh đó, Indonesia cũng nhấn mạnh ASEAN cần tiếp tục tăng cường xử lý hiệu quả các thách thức đang nổi lên, bao gồm biến đổi khí hậu, môi trường, khai thác và sử dụng tài nguyên nước trên các dòng sông một cách hợp lý để từ đó góp phần thúc đẩy phát triển bền vững và đồng đều ở khu vực. Đồng thời để thể hiện vai trò đầu tàu của mình, Indonesia cũng đã thông qua một chương trình hành động nhằm hạn chế khí thải gây hiệu ứng nhà kính bắt nguồn từ ngành công nghiệp, lâm nghiệp và nông nghiệp trong khuôn khổ cuộc đấu tranh toàn cầu chống biến đổi khí hậu.
4. Kết luận
Sau một năm giữ nhiệm kỳ Chủ tịch ASEAN, so sánh với Tuyên bố của Ngoại trưởng Indonesia, nước này đã hoàn thành những mục tiêu đề ra và có những đóng góp rất quan trọng trong việc xây dựng ASEAN trở thành một tổ chức khu vực thống nhất, năng động, hợp tác và hữu nghị. Trong bối cảnh thế giới ngày càng có nhiều biến động khó lường, ASEAN luôn có những chính sách phù hợp để phát triển và duy trì sự ổn định của khu vực, trong đó, Indonesia nổi lên như một nhân tố không thể thiếu được trong những thành công chung đó. Một năm là không dài để chứng minh vai trò quan trọng của Indonesia, nhưng nó cũng đủ để Indonesia chứng tỏ được vị thế của mình trong khu vực bằng những đóng góp và sáng kiến giúp ASEAN gặt hái được nhiều thành tựu trong tất cả các lĩnh vực chính trị-an ninh, kinh tế, văn hóa – xã hội.
Những thành công mà Indonesia đạt được trong nhiệm kỳ Chủ tịch ASEAN 2011 là bước đệm quan trọng cho bước phát triển mới của ASEAN, đồng thời tạo thêm động lực và niềm tin cho Campuchia – nước giữ vị trí chủ tịch ASEAN năm 2012 tiếp tục sự nghiệp chèo lái con thuyền ASEAN.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.      Đặng Thị Hải Hằng, Vai trò của Indonesia trong quá trình phát triển của ASEAN, Luận văn cao học, Khoa Đông Phương học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn.
2.      Indonesia Pocket Tax Book 2011
4.      Lê Thanh Hương, Indonesia và tiến trình xây dựng Cộng đồng ASEAN, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 9/2007, tr 10-18.
5.      Ministers Meet in Manado to Continue Building an Economic Community, http://www.asean.org/26545.htm
6.      Natalegawa R.M. Marty, Annual Press Statement of the Foreign Minister of the Republic of Indonesia., Jakarta, 7 January 2011.
7.      Những bước tiến mới trong hợp tác kinh tế ASEAN-EU: http://www.mutrap.org.vn/Lists/Posts/Post.aspx?List=5276b79d-4e3a-4c5b-a2ad-c903807cc7ea&ID=495
8.      Nội dung Quy tắc hướng dẫn thực thi DOC,http://biengioilanhtho.gov.vn/vie/noidungquytachuongdan-nd-03ab844f.aspx
9.      Thu Mỹ, Tình hình triển khai AFTA ở các nước thành viên gốc của ASEAN và kết quả bước đầu, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 5/1999, tr.26 – tr.37).


[1] Dr. R.M. Marty M.. Natalegawa, Annual Press Statement of the Foreign Minister of the Republic of Indonesia., Jakarta, 7 January 2011, p.5.
[2] Nội dung Quy tắc hướng dẫn thực thi DOC,
[3] Lê Thanh Hương, Indonesiavà tiến trình xây dựng Cộng đồng ASEAN, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 9/2007, tr 10-18.
[4] Thông tấn xã Việt Nam, 2011
[5] Lê Thanh Hương, Indonesiavà tiến trình xây dựng Cộng đồng ASEAN, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 9/2007, tr 10-18.
[6]Ministers Meet in Manado to Continue Building an Economic Community, http://www.asean.org/26545.htm
[7] NHỮNG BƯỚC TIẾN MỚI TRONG HỢP TÁC KINH TẾ ASEAN-EU, http://www.mutrap.org.vn/Lists/Posts/Post.aspx?List=5276b79d-4e3a-4c5b-a2ad-c903807cc7ea&ID=495
[8] Theo Thông Tấn Xã Việt Nam, 2011

Thứ Hai, 1 tháng 9, 2014

Kế hoạch châm ngòi Thế chiến 3

Kế hoạch châm ngòi Thế chiến 3


Thủ tướng Anh Winston Churchill từng mưu tính cùng Mỹ tấn công Liên Xô vào cuối Thế chiến 2 với kế hoạch mang mật danh Chiến dịch không tưởng.


Từ trái sang: Thủ tướng Anh Winston Churchill, Tổng thống Mỹ Franklin D.Roosevelt và lãnh đạo Liên Xô Joseph Stalin tại Hội nghị Yalta tháng 2.1945 - Ảnh: History.com  
Giữa lúc phương Tây và Nga đang rất căng thẳng vì vấn đề Ukraine, giới truyền thông và một số chuyên gia đã nhắc đến nguy cơ xảy ra Thế chiến 3. Điều ít người biết là đã suýt có thêm một cuộc chiến hủy diệt xuất phát từ ý tưởng điên rồ của Thủ tướng Anh Winston Churchill.
Trong giai đoạn cuối Thế chiến 2, khi chữ ký trên văn kiện đầu hàng của Đức còn chưa ráo mực và Mỹ đang giao chiến với Nhật ở Thái Bình Dương, Thủ tướng Churchill đã bí mật yêu cầu nội các chiến tranh của ông vạch kế hoạch tấn công Liên Xô.
Cơn cuồng vọng ở nước Anh
Theo tờ Daily Mail, các viên tướng Anh đã thất kinh khi được yêu cầu nghĩ ra chiến lược “áp đặt ý chí của Mỹ và đế quốc Anh lên người Nga”, qua đó châm ngòi Thế chiến 3. Churchill trấn an họ rằng cuộc tấn công sẽ do Mỹ dẫn đầu và được yểm trợ bằng đoàn quân thất trận của nước Đức. Ý tưởng điên rồ của Churchill xuất phát từ một vài yếu tố. Trong cuốn Finest Years: Churchill as Warlord (tạm dịch: Những năm tháng lẫm liệt nhất: Churchill trong vai chiến tướng), nhà sử học Max Hastings viết rằng sự thỏa mãn của Churchill khi chứng kiến sự sụp đổ của Đức Quốc xã gần như bị các chiến thắng của Liên Xô ở Đông Âu phủ lấp hoàn toàn. Đến năm 1945, Liên Xô đã mạnh lên rất nhiều còn nước Anh yếu hơn so với mong đợi của Churchill, như lời bình luận của ông tại Hội nghị Yalta tháng 2.1945: “Ở bên này là con gấu Nga to xác, ở bên kia là con voi Mỹ khổng lồ, còn ở giữa là con lừa Anh còm cõi tội nghiệp”.
Thứ hai, lập trường chống Liên Xô càng được nung nấu sau khi Churchill biết về thành công của chương trình bom nguyên tử Mỹ. Theo Tham mưu trưởng lục quân Anh Alan Brooke, Churchill từng nói với ông tại Hội nghị Potsdam: “Chúng ta có thể nói với người Nga nếu họ nhất quyết làm chuyện này hay chuyện kia, thì chúng ta có thể xóa sạch Moscow, rồi tới Stalingrad, Kiev, Sevastopol và cứ thế”. Cơn bực tức của Thủ tướng Anh càng dâng cao với quyết định “nhuộm đỏ” Ba Lan của nhà lãnh đạo Joseph Stalin.
Phản ứng của các viên tướng Anh khi được yêu cầu chuẩn bị cho chiến tranh chỉ vài ngày sau khi kết thúc cuộc xung đột đẫm máu nhất lịch sử là cho rằng vị thủ tướng của họ đã mất trí. Brooke viết trong nhật ký: “Winston làm cho tôi có cảm giác ông ta khao khát có thêm một cuộc chiến”. Tuy vậy, các viên tướng vẫn vạch ra một kế hoạch, với mật danh được đặt hết sức phù hợp là Chiến dịch không tưởng. Theo đó, các lực lượng phương Tây sẽ tấn công Liên Xô trên mặt trận trải dài từ Hamburg (Đức) ở phía bắc xuống Trieste (Ý) ở phía nam.
Sứ mệnh bất khả thi
Các nhà hoạch định quân sự ước lượng cần có 47 sư đoàn quân đồng minh, gồm 14 sư đoàn xe tăng, để phát động tấn công. Cần có thêm 40 sư đoàn dự bị để phòng thủ hoặc thực hiện nhiệm vụ chiếm đóng. Để chống lại lực lượng này, theo báo cáo của nội các chiến tranh, người Nga có thể tập hợp gấp đôi quân số và số lượng xe tăng. Báo cáo nhận xét tỷ lệ trên “cho thấy việc phát động tấn công rõ ràng là một nhiệm vụ mạo hiểm. Nếu chúng ta lao vào chiến tranh với Liên Xô, chúng ta phải chuẩn bị cho một cuộc chiến tổng lực, dai dẳng và đắt giá”. Về khả năng tái vũ trang và đưa quân đội Đức thất trận trở lại chiến trường, các nhà hoạch định lo ngại những cựu binh vừa trải qua cuộc chiến cay đắng ở mặt trận phía đông có lẽ sẽ không muốn có thêm một trải nghiệm đau đớn. Theo Max Hastings, các chỉ huy quân đội Anh hiểu rất rõ tính bất khả thi của một cuộc tấn công nhằm đưa Ba Lan khỏi tay Moscow. Brooke viết trong nhật ký của ông rằng “ý nghĩ đó dĩ nhiên là không tưởng và hoàn toàn không có cơ hội thành công. Không có nghi ngờ gì về việc Liên Xô từ nay sẽ thâu tóm quyền lực ở châu Âu”.
Như Napoleon và Hitler đã cay đắng nhận ra chiến tranh với người Nga không phải là một cuộc dạo chơi, trong báo cáo gửi Churchill, nội các chiến tranh kết luận: “Việc giành một thành công chớp nhoáng vượt quá khả năng của chúng ta và chúng ta sẽ phải lao vào một cuộc chiến kéo dài với sự thua sút lớn về quân số. Hơn nữa, tỷ lệ này còn sẽ thay đổi nếu người Mỹ trở nên mệt mỏi, muốn đứng ngoài cuộc và bắt đầu rút lui để phục vụ cho cuộc chiến ở Thái Bình Dương”. Như vậy, Chiến dịch không tưởng được xác định chỉ đơn thuần là điều không tưởng.
Kế hoạch thứ hai
Khả năng người Mỹ rút lui để dồn sức chống Nhật khiến Churchill tỏ ra cảnh giác. Nếu người Mỹ xoay trục sang Thái Bình Dương, Anh sẽ trơ trọi và đối mặt với khả năng tấn công của Liên Xô, vốn đủ sức chinh phạt lên biển Bắc và Đại Tây Dương. “Hãy nghiên cứu về cách chúng ta có thể bảo vệ hòn đảo của mình, với giả định Pháp, Hà Lan, Bỉ và Luxembourg không đủ sức chặn đà tiến của người Nga”, ông chỉ thị. Tuy nhiên, lúc này có vẻ như ông đã lấy lại được sự tỉnh táo khi nói thêm rằng nên giữ lại mật danh Chiến dịch không tưởng cho kế hoạch thứ hai này, “để bộ tham mưu nhận ra đây chỉ là nghiên cứu phòng ngừa cho điều mà tôi hy vọng vẫn là một sự kiện khó có khả năng xảy ra”. Trước khi gửi chỉ thị, ông đã lấy viết đỏ và sửa lại cụm từ “sự kiện khó có khả năng xảy ra” thành “trường hợp bất ngờ chỉ đơn thuần là giả thuyết”. Chiến dịch không tưởng lúc đó trở thành kế hoạch phòng thủ nước Anh trước một cuộc tấn công của Liên Xô.
Trả lời câu hỏi về điều gì sẽ xảy ra nếu Liên Xô tấn công qua eo biển Manche, các viên tướng kết luận sức mạnh hải quân của người Nga quá hạn chế để có thể tiến hành cuộc đổ bộ bất ngờ. Họ xem nhẹ kịch bản Liên Xô sử dụng không quân. Khả năng lớn nhất là Moscow sẽ trông cậy vào pháo kích với tiềm lực phá hủy ghê gớm hơn cả các tên lửa V1 và V2 của Đức. Để bảo vệ đất nước trước mối đe dọa như thế, London ước lượng cần có lực lượng lớn gồm 230 phi đoàn cường kích và tiêm kích cơ cùng 300 phi đoàn oanh tạc cơ.
May mắn cho các viên tướng của Churchill, họ rốt cuộc cũng có cơ hội lên kế hoạch nghỉ dưỡng sau khi Tổng thống Mỹ Harry Truman, người kế nhiệm Franklin D.Roosevelt, gửi một bức điện nói rõ rằng đừng bao giờ nghĩ đến việc Washington giúp sức, chứ chưa nói đến cầm đầu, một cuộc tấn công đẩy bật người Nga ra khỏi Đông Âu hoặc thậm chí chỉ đe dọa Moscow là họ sẽ làm thế. Hồ sơ về Chiến dịch không tưởng từ đó được đóng lại. 
Chiến dịch Pike
Chiến dịch không tưởng không phải là kế hoạch tấn công Liên Xô đầu tiên của Anh. Không lâu trước khi Thế chiến 2 khởi phát, Anh và Pháp đã lo ngại về khả năng Liên Xô cung cấp dầu cho Đức. Khi đó, 2 nước này vừa ký hiệp ước không xâm lược lẫn nhau, cho phép Đức phát động chiến tranh mà không lo ngại Liên Xô can thiệp. Đáp lại, các chiến lược gia Anh và Pháp vạch ra kế hoạch tên Chiến dịch Pike để làm tê liệt nghiêm trọng nền kinh tế Liên Xô bằng cách oanh tạc các cơ sở sản xuất dầu.
Việc thiếu dầu sẽ làm xói mòn nỗ lực chiến tranh của Đức. Họ kết luận các mục tiêu thích đáng nhất là các mỏ dầu ở Azerbaijan, vốn nằm trong tầm tấn công của các oanh tạc cơ Anh và Pháp đóng tại Trung Đông. Tháng 4.1940, máy bay đã xuất kích đến mục tiêu song không thả bom. Thay vào đó, họ quyết định dùng sức mạnh không quân để uy hiếp Liên Xô ngưng cung cấp dầu cho Đức quốc xã. Sau khi Đức tấn công Pháp năm 1940, kế hoạch được gác lại vô hạn định. Người Anh lo sợ nếu tiến hành chiến dịch, Liên Xô sẽ về phe với Đức.
Xúc tác cho Chiến tranh Lạnh
Theo Daily Mail, Stalin đã loáng thoáng nhận ra những tính toán của Churchill ngay từ rất sớm. Ông từng cảnh báo với Nguyên soái Georgi Konstantinovich Zhukov về Churchill: “Gã này có thể làm bất kỳ điều gì”. Một trong số nhiều điệp viên của Liên Xô tại London đã báo cho Moscow thông tin về một chỉ thị gửi đến Nguyên soái Bernard Montgomery, chỉ huy quân Anh tại Đức, hối thúc ông dự trữ những vũ khí thu giữ từ quân Đức để chuẩn bị cho khả năng sử dụng trong tương lai. Tuy nhiên, những mưu tính của Churchill vẫn là một bí mật quốc gia của Anh trong hơn nửa thế kỷ, cho đến khi được xác nhận trong các hồ sơ do Thư viện Quốc gia công bố năm 1998. Cùng với thái độ “lên mặt” của Mỹ sau khi khiến cả thế giới thất kinh với vũ khí hạt nhân, Chiến dịch không tưởng tạo ra không khí nghi kỵ và gầm ghè nhau giữa các đồng minh một thuở. Qua đó, trở thành một chất xúc tác cho chiến tranh lạnh.
Sơn Duân