Thứ Năm, 10 tháng 4, 2014

Một đế chế Trung Quốc mới: Thách thức đối với liên minh Mỹ-Nhật

Một đế chế Trung Quốc mới: Thách thức đối với liên minh Mỹ-NhậtSự hung hãn trong tranh chấp lãnh thổ, coi thường hệ thống luật lệ quốc tế hiện hành, mở rộng và xây dựng căn cứ quân sự ra bên ngoài, sục sạo tìm kiếm tài nguyên khắp nơi…là những gì mà Masako Ikegami, giáo sư Khoa học chính trị Đại học Stockholm miêu tả Trung Quốc. Tác giả cho rằng, dấu hiệu này tương đồng với những gì mà Nhật Bản đã làm để châm ngòi cho Thế chiến thứ 2. Bài viết đăng trên Bản tin số 122 của East – West Center với nhan đề “New Imperial China : A Challenge for the US-Japan Alliance”.
Sự trỗi dậy của Trung quốc đặt ra nhiều câu hỏi . Trong đó câu hỏi quan trọng nhất là liệu một nước trung quốc hùng mạnh sẽ trở thành một thành viện có trách nhiệm trong cộng đồng quốc, tế tuân thủ các luật lệ và tiêu chuẩn hành vi đã được công nhận trong hệ thống toàn cầu hiện hành? Nói cách khác liệu Trung quốc sẽ thách thức các tiêu chuẩn toàn cầu và sẽ cố áp đặt luật lệ và tiêu chuẩn hành vi của mình, và do đó thách thức trật tự thế giới do Mỹ lập ra? Trung quốc hiện tích cực làm giảm sự cảnh giác của thế giới đối với sự trỗi dậy của mình bằng cách đưa ra những lời lẽ hào nhoáng về “Trỗi dậy hòa bình” và "phát triển hoà bình” với điểm nhấn là Trung quốc đã học đựợc bài học lịch sử từ việc nước Đức quốc xã và Nhật trực tiếp thách thức bá quyền Anh - Mỹ. điều châm ngòi cho thế chiến thứ Hai và đưa đến kết cục thảm bại cho cả hai nước này Vì thế trung quốc sẽ tích cực gây ảnh hưởng trên toàn cầu nhưng không đối đầu với Mỹ. Tuy nhiên. kể từ năm 2003, sau khi củng cố quyền lực, Hồ Cẩm Đào đã triển khai thành công một chính sách đối ngoại chủ động nhằm đảm bảo chỗ đứng của Trung quốc trên thế giới tại những nước có tài nguyên và vị trí địa chiến lược quan trọng, từ châu Phi đến Trung Á tới Nam Mỹ. Ý đồ của Trung quốc là xây dựng một liên minh quốc tê thách thức bá quyền Mỹ.

Trung quốc cũng đang theo đuổi một chiến lược rất tinh vi đối với các nước láng giềng có tầm quan trọng về địa chiến lược như Bắc Triều tiên và Myanmar, là những nước giàu có về tài nguyên. Nếu chính sách của Nhật đối với Mãn châu lý trong thập kỷ 30 của thế kỷ trước được coi là (1) sự đầu tư quan trọng vào cơ sở hạ tầng kinh tế để khai thác tài.nguyên, (2) sự can thiệp quân sự để bảo vệ lợi ích kinh tế, và (3) sự thôn tính về văn hóa và chính trị thông qua việc thiết lập các chính quyền bù nhìn, thì chiến lược hiện nay của Trung quốc đối với các nước kể trên cũng có thể được giải thích tương tự, tạm gọi là mô hình "Mãn châu quốc mô phỏng" (Quasi-Manchukuo). Chiến lược hiện nay của Trung quốc có nhiều điểm giống với chính sách của Nhật đối với Mãn châu lý vì nó thể hiện sự bành trướng từ từ và kín đáo ra khu tiền tiêu chiến lược được ngụy trang dưới hình thức đầu tư hoặc hợp tác kinh tế trên lĩnh vực cơ sở hạ tầng công nghiệp. Điều này cho thấy Trung quốc có thể trở thành một nước thực dân mới, bất kể khẩu hiệu “trỗi dậy hòa bình” và “phát triển hòa bình."

Lợi dụng Bắc Triều tiên bị cô lập, Trung quốc đẩy tới việc nắm gọn nước này. Trung quốc là nước cấp lương thực chính của Bắc Triều tiên, ngoài ra cung cấp tới gần 90% nhập khẩu năng lượng và 80% nhập khẩu hàng tiêu dùng của nước này. Quan hệ thương mại hai chiều Trung - Triều tiếp tục tăng lên, kể cả việc Trung quốc chuyên cho Triều tiên hàng hóa thuộc loại xa xỉ phẩm mà nghị quyết 1874 của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc đã cấm sau khi Bắc Triều tiên thử hạt nhân năm 2009. Tổng hợp lại, Trung quốc chiếm tới hơn 70% thương mại của Triều tiên, 90% đần tư nước ngoài vào Triều tiên, tập trung vào các ngành khai khoáng tài nguyên khoáng sản như than, sắt, vàng, đồng, thiếc, và chì. Trung quốc đã giành được đặc quyền phát triển mỏ quặng sắt Musan, (mỏ lộ thiên lớn nhất ở châu Á do công ty Mitsubishi bắt đầu khai thác từ thập kỷ 30 thế kỷ trước) và hải cảng Rajing (nằm trên vị trí chiến lược nối với Biển Nhật bản cũng do Nhật khai thác cùng lúc với việc tiến vào Mãn châu lý).Thông qua đầu tu hạ tầng có định hướng, Trung quốc giờ đã kết nối và biến nguồn tài nguyên thiên nhiên cửa Triều tiên thành một bộ phận của khu công nghiệp Đông Bắc Trung quốc. Khu vực này cũng chính là khu vực mà Nhật đã đầu tư mạnh về hạ tầng công nghiệp, công nghiệp nặng và sản xuất đạn dược trong thập kỷ 30 thế kỷ trước .

Sau khi chiến thắng Nga trong cuộc chiến tranh năm 1904 - 1905 và sau khi mua hệ thống đường sắt Nam Mãn châu lý thuộc vùng Đông bắc Trung quốc, năm 1906 Nhật triển khai đơn vị đồn trú Kwantung để bảo vệ hệ thống đường sắt và lợi ích kinh tế ở khu vực này. Năm 1919, đơn vị này phát triển thành Quân đoàn Kwantung là lực lượng sau này gây sự biến Mãn châu lý năm 1931 trong đó lực lượng Nhật bày ra một vụ nổ trên tuyến đường sắt rồi đổ cho Trung quốc và từ đó có cớ lập ra Mãn châu quốc năm 1932 và dẫn tới cuộc chiến tranh giữa Trung quốc và Nhật năm 1937 - 1945 . Công ty đường sắt Nam Mãn châu lý trở thành tâm điểm của các hoạt động chính trị, kinh tế, công nghiệp và quân sự ở Mãn châu lý, được triển khai cùng với một chương trình di dân lớn khi hệ thống đường sắt ngày càng kéo dài. Sự biến năm 1931 là hệ quả tất yếu của một chiến lược dài hạn và có cân nhắc kỹ lưỡng nhằm bảo vệ các nguồn tài nguyên khoáng sản. Trên thực tế, nếu không có các nguồn tài nguyên này và cơ sở công nghiệp nặng ở Mãn châu lý, Nhật không thê theo đuổi, thậm chí nghĩ tới việc lâm chiến với Anh và Mỹ. Mãn châu lý là tiền đề kinh tế và quân sự để Nhật gây ra chiến tranh Thái Bình Dương.

Đầu tư của Trung quốc gần đây vào các cơ sở công nghiệp trên quy mô lớn như đường bộ, đường sắt, đường ống dẫn dầu ở các nước có vị trí chiến lược quan trọng nhưng bất ổn trong nước và bị cô lập trên trường quốc tế như Bắc Triều tiên và Myanmar cũng giống như chiến lược xưa của Nhật ở vùng Mãn châu lý. Đó là xây dựng một cơ sở kinh tế để đảm bảo nguồn tài nguyên thiên nhiên. Chính sách của Trung quốc - nguy trang bởi thuật ngữ "phát triển" hoặc “hợp tác”- thực ra là nhằm mục tiêu chiến lược duy nhất là xây dụng căn cứ quân sự, như điều Trung quốc đang làm trên đảo Coco của Myanmar. Ngoài ra, việc sử dụng công nhân nhập cư nửa lao động nửa binh sĩ người Trung quốc ở Tây tạng và Tân cương (như trường hợp công ty Xây dựng và Sản xuất Tân cương) đang diễn ra ở Myanmar và các nơi khác. Nhìn lại, chính sách Mãn châu của Nhật là một biện pháp chiến lược tinh vi có màu sắc đế quốc ẩn mình của các cường quốc sinh sau đẻ muộn cố gắng mở mang lợi ích của mình một cách từ từ và âm thầm để tránh xung đột trực tiếp với các nước đế quốc đang thống trị như Anh và Mỹ. Tương tự như vây, chính sách “Mãn châu quốc mô phỏng" cũng thuộc dạng này với mục tiêu giúp Trung quốc mở mang lợi ích cố hữu trong khi tránh xung đột trực tiếp với các nước lớn khác và giành giật những nước có tầm quan trọng chiến lược như Bắc Triều tiên và Myanamr.

Trung quốc còn đang ngày càng hung hãn đối với các đòi hỏi lãnh thổ ở Hoàng hải, Đông Hải và Biển Đông, điều thể hiện bản chất đế quốc của Trung quốc và đưa ra bằng chứng rõ ràng là Trung quốc không tuân thủ hệ thống quốc tế hiện đại theo đó biên giới giữa các nước phải được tôn trọng bằng luật pháp quốc tế và sự công nhận hỗ tương về chủ quyền. Theo đánh giá của Hiramatsu Shigeo, một chuyên gia về quân sự Trung quốc, Trung quốc đang điều chỉnh học thuyết "biên ải chiến lược" (strategic frontier) của Quân giải phóng Nhân dân Trung quốc với nội dung chính là chối bỏ hệ thống quốc tế hiện đại cho rằng các đường biên giới có thể được mở mang tương ứng với sức mạnh và lực lượng của từng, nước. Theo tinh thần này, giới quân sự Trung quốc đã đưa ra Chiến lược Phòng thủ Hải dương (Offshore Defense Strategy) đối với chuỗi đảo thứ nhất và thứ hai bao bọc toàn bộ khu vực Hoàng hải, Đông và Biển Đông, Đài loan và Okinawa, kéo dài tới quần đảo Nhật bản và tới tận Philippines và Guam.

Thế giới, trong đó có Nhật và Mỹ, giờ đang phải đương đầu với một Trung quốc theo đường lối đế quốc, ngày càng hung hãn và bành trướng với một liên minh quốc tế rộng lớn. Hơn nữa, Trung quốc giờ còn bắt đầu một chiến dịch coi Okinawa là một bộ phận không thể tách rời của Trung quốc (inalienable part of China). Điều này đẻ ra hệ lụy lớn đôi với bản chất của vấn đề căn cứ quân sự của Mỹ ở Okinawa. Để đáp ứng mối đe dọa tiềm.tàng chưa từng có này, liên minh Mỹ - Nhật cần một sự chuyển hướng căn bản về cách tiếp cận kèm theo những thay đổi thể chế có tính hệ thống cả về mặt tổ chức lẫn mặt tác chiến. Thậm chí trong khi cả hai nước đang gặp phải khó khăn ngày.càng lớn về ngân sách, liên minh Mỹ - Nhật cần phải được xem xét lại một cách tông thể để đem lại một mức độ mới và sâu hơn đối với việc hoạch định chiến lược, trong đó có cả việc điều chỉnh quan trọng việc phân bổ nguồn lực phòng thủ trong bối cảnh Trung quốc có một chiến lược kiểu đế quốc như trên.

Theo East – West Center

Lối thoát cho cuộc đối đầu Đông - Tây

Sau những hành động "lên gân" cả trong lĩnh vực quân sự lẫn trên các diễn đàn ngoại giao quốc tế và đương nhiên có cả kinh tế từ cả hai phía, nay một lối thoát đã được mở ra.


Lối thoát cho cuộc đối đầu Đông - Tây
Mỹ và Nga vẫn còn rất khác biệt trên hồ sơ Ukraina sau cuộc gặp giữa ngoại trưởng hai nước tại Paris ngày 30/3. Tuy nhiên, rõ ràng hai nước đang có những cố gắng muốn giải quyết vấn đề bằng con đường đối thoại trực tiếp. Ảnh: irtve
Phương Tây đã bộc lộ mong muốn thực sự của mình qua phát biểu của Tổng thống Mỹ Barack Obama hôm 25/3. 
Tại cuộc gặp bên lề Hội nghị An ninh hạt nhân tại La Haye (Hà Lan) với đại diện 6 quốc gia trong nhóm G7 ngày 25/3, ông Obama đã "nói điều ấp ủ": Mỹ và đồng minh tạm thời không tăng thêm các biện pháp trừng phạt nếu Moscow công nhận Chính phủ Kiev hiện nay và không mở rộng phạm vi can thiệp ngoài Crimea.

Như vậy phương Tây có vẻ đã vạch ra được giới hạn cho Nga trong cuộc khủng hoảng Ukraine. Tuyên bố trên của ông Obama cũng có thể được hiểu là phương Tây đã chấp thuận Crimea sáp nhập vào Nga.

Sau khi Crimea hoàn tất việc sáp nhập vào Nga, giới quan sát quốc tế đang đưa ra nhiều dự đoán về hành động tiếp theo cũng như mục đích cuối cùng của ông chủ Điện Kremlin trong vụ khủng hoảng Ukraine là gì.

Trong những ngày qua, thông tin dồn dập về việc Nga đưa quân tới biên giới Ukraine, tập trận ở khu tự trị Transnistria của Moldova, đã khiến nhiều phương tiện truyền thông phương Tây cho là Nga đang chuẩn bị một cuộc can thiệp sâu hơn nữa vào Ukraine và xa hơn nữa vào các vùng tự trị ở các nước thuộc Liên Xô cũ. Binh lính Nga đã tập trung sát biên giới phía đông Ukraine.

Báo Le Monde của Pháp viết: "Gót giày của quân Nga rất có thể sẽ tiến tới cả những thành phố khác của Ukraine như Donetsk, Kharkov, Lougansk hay thậm chí Odessa".

Le Monde dẫn lời ông Serguei Markov, một nhà chính trị học, kêu gọi trên Đài Phát thanh Kommersant: "Cần phải giải phóng miền Đông và Nam Ukraine khỏi nỗi kinh hoàng của Quốc xã".

Tờ báo cũng cho biết là những hình ảnh được phát đi liên tục trong những ngày qua trên truyền hình Nga là những cảnh đất nước đang chuẩn bị cho một cuộc tấn công lớn: Nào là những hình ảnh lính dù tập đổ bộ tại Rostov và Ivanovo, tập bắn pháo ở biên giới Ukraine, thiết bị quân sự được chuyển bằng tàu hỏa từ Siberi....

Về mặt chính thức thì Nga phủ nhận điều này. 
Ngày 23/3, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Nga, ông Anatoli Antonov, được Interfax trích dẫn, tuyên bố: "Bộ Quốc phòng Nga tôn trọng các hiệp ước về việc giới hạn số lượng binh sĩ trong các khu vực có đường biên giới với Ukraine và lực lượng vũ trang Nga không tiến hành bất kỳ hoạt động quân sự nào mà không tuyên bố, có thể đe dọa an ninh của các quốc gia láng giềng".

Moscow đưa ra thông tin cải chính này sau khi Thư ký Hội đồng An ninh quốc gia và Quốc phòng Ukraine Andrii Paroubii tuyên bố rằng quân đội Nga đã sẵn sàng tấn công Ukraine bất kỳ lúc nào và khẳng định Nga tập trung quân sát đường biên giới chung giữa hai nước.

Rõ ràng là một cuộc chiến tranh đang được chuẩn bị, còn có nổ ra hay không thì điều này phụ thuộc vào kế hoạch của Tổng thống Putin. 
Vậy kế hoạch của ông Putin là gì? Ông Putin chưa lật lá bài tẩy của mình.

Các chuyên gia cho rằng, Crimea mới chỉ là màn đầu tiên, màn hai trong ván bài của Tổng thống Nga sẽ được diễn ra tùy thuộc vào sự phản ứng của phương Tây và thái độ của chính quyền Kiev. 
Về vế thứ nhất trong đòi hỏi của Mỹ, Nga sẽ không công nhận tính hợp pháp của chính quyền Ukraine hiện nay vì cho rằng đó là một chính phủ "phát xít" sau khi lật đổ ông Yanukovych bằng vũ lực.

Các chuyên gia dự đoán, Nga sẽ chỉ công nhận chính phủ này nếu họ không được bén mảng tới phương Tây, cũng không nhất thiết phải đứng hẳn về phía Moscow, mà nên là trung lập như những chính phủ trước.

Vế thứ hai trong đòi hỏi của Mỹ: Nga không được can thiệp sâu hơn vào miền Nam và Đông của Ukraine, gây chia cắt đất nước này. 
Để Nga chấp thuận đề nghị này: 1) Phương Tây không nên đưa ra những biện pháp trừng phạt mạnh tay hơn với Moscow; 2) Tùy thuộc vào thái độ hợp tác của chính quyền Kiev. 
Như vậy có thể thấy, mẫu số chung cho giải pháp giải quyết cuộc khủng hoảng hiện nay giữa Nga và phương Tây là Ukraine nên đứng trung lập.

Jean Radvany, chuyên gia về Nga của Viện Ngôn ngữ và Văn minh phương Đông Pháp (Inalco) nhận định: "Nếu Ukraine gia nhập NATO, nước Nga sẽ ủng hộ tiến hành trưng cầu dân ý ở miền Đông đất nước. Việc buộc người Ukraine phải lựa chọn giữa một bên là Nga và một bên là phương Tây đã dẫn tới cuộc khủng hoảng hiện nay. Sự xuống thang chỉ có, khi Ukraine trở nên trung lập".

Thomas Gomart thuộc Viện Quan hệ quốc tế Pháp nhận định: "Ông Putin biết là không thể phủ nhận nền độc lập Ukraine nhưng ông ta chỉ dung thứ một nền độc lập có giới hạn".

Nhà nghiên cứu này cho biết thêm: "Bằng cách từ chối trả lời đòi hỏi của phương Tây, Tổng thống Putin đang khôn khéo giữ lá bài tẩy của mình". Đó là bằng chứng cho thấy Điện Kremlin vẫn nắm trong tay số phận của người láng giềng Ukraine trước sự bất lực của Mỹ và châu Âu.

Lối thoát cho cuộc khủng hoảng Nga - phương Tây như vừa được mở rộng ra khi Tổng thống Putin hé lộ quân bài tẩy của mình sau cuộc điện đàm với Tổng thống Obama ngày 28/3. Trong cuộc nói chuyện qua điện thoại, hai nhà lãnh đạo đã bàn thảo giải pháp ngoại giao nhằm giảm căng thẳng cho cuộc khủng hoảng Ukraine.

Điện Kremlin cho biết, nhà lãnh đạo Nga đã nhắc nhở người đứng đầu chính quyền Mỹ thực trạng tiếp diễn lan tràn sự lộng hành của bọn cực đoan không bị trừng phạt, thực hiện những hành động tấn công và đe dọa làm cư dân hoảng sợ.

Tổng thống Nga cũng đã lưu ý đến thực tế vòng phong tỏa bên ngoài Pridnestrovie (khu vực tự trị Moldova, nơi Nga có quân đồn trú), gây hệ lụy phức tạp khó khăn rõ rệt với điều kiện sống của người dân trong khu vực. 
Trước đó, theo đề xuất của Mỹ, vốn đã qua thảo luận với Ukraine và các quốc gia EU, giải pháp ngoại giao sẽ bao gồm việc triển khai các quan sát viên quốc tế để bảo đảm quyền lợi của cộng đồng nói tiếng Nga tại Ukraine. Đổi lại, Nga phải công nhận Chính phủ Kiev cũng như rút quân từ Crimea về căn cứ.

Sau cuộc điện đàm đêm 28/3 giữa hai nguyên thủ Nga và Mỹ, Ngoại trưởng Mỹ khi đang bay về từ Trung Đông đã phải quay ngoắt máy bay để sang Pháp gặp đồng nhiệm Nga Lavrov thảo luận về cuộc khủng hoảng ở Ukraine. Giới truyền thông phương Tây bình luận rằng, hành động tự ý gọi điện thoại của Tổng thống Putin đã cho thấy, ông đang muốn tránh một cuộc phong tỏa kinh tế có thể leo thang từng bước một trong thời gian tới.

Kế nữa, ông Putin cũng lo ngại tình trạng dân Ukraine và các nước thuộc khối Liên Xô cũ đang nghiêng về phía phương Tây. 
Từ đó, Liên minh châu Âu có thể thu hút được nhiều nước mới ở phía đông hơn, để tạo thành một khối lớn có quyền lợi đối lập ngay bên cạnh Nga. 
Và cuối cùng, vụ khủng hoảng Ukraine đã đẩy châu Âu và Mỹ gần nhau hơn. Đây là điều Nga không mong muốn.

Mặc dù cuộc thảo luận giữa hai ngoại trưởng Mỹ và Nga ngày 30/3 tại Paris chưa đem lại kết quả cụ thể nào. Hai bên đồng ý sẽ tiếp tục các cuộc gặp tiếp theo. 
Ngay ngày hôm sau, Nga đã rút một số lượng quân khỏi biên giới Ukraine, một động thái thể hiện thiện chí của Nga trong giải pháp hòa bình cho Ukraine. Người ta đang chờ đợi phản ứng của Mỹ trước cử chỉ này.

Mặc dù cuộc đối thoại Nga - Mỹ chưa thể giải quyết được mọi chuyện trong một sớm một chiều, tuy nhiên sự xuống thang của Nga cũng như việc các bên nói thẳng quan điểm của mình ra đã giúp cuộc đối đầu Đông - Tây hạ nhiệt.
Theo Công an nhân dân

Làm thế nào để Trung Quốc và Mỹ duy trì hòa bình ở Thái Bình Dương?

Làm thế nào để Trung Quốc và Mỹ duy trì hòa bình ở Thái Bình Dương?

Trung Quốc và Mỹ có văn hóa chiến lược khác nhau với những mục tiêu khác nhau liên quan đến các vụ đụng đầu tác chiến, việc tìm ra một hình mẫu có thể chấp nhận được là một thách thức. Tuy nhiên hai bên cần phải làm điều đó: sự ổn định toàn cầu phụ thuộc vào việc tránh xảy ra đụng độ giữa hai bên
Tháng 12/2013 , tàu Cowpens của Mỹ đã suýt đụng độ với một tàu hộ tống tàu sân bay của Mỹ trong bối cảnh lực lượng hải quân hai nước triển khai ở Biển Đông. Tàu Trung Quốc đã cắt ngang đường tàu Mỹ, hai tàu đã suýt đâm vào nhau trong gang tấc.
Phó TTh Biden và Lầu Năm góc mạnh mẽ phản đối hành động “khiêu khích” này và kêu gọi Trung Quốc thực hiện các quy trình liên lạc và cơ chế phòng chống khủng hoảng có hiệu quả để giúp tránh hiểu nhầm và gia tăng căng thẳng trong tương lai. Phản ứng của Trung Quốc đối với các đề nghị này rất mơ hồ.
Những vụ việc đụng độ như vậy giữa hai nước trên biển cũng như trên không ngày càng trở nên thường xuyên hơn trong bối cảnh quân đội Trung Quốc triển khai lực lượng ra bên ngoài biên giới ngày càng nhiều, va chạm với các hoạt động tuần tra và triển khai của quân đội Mỹ. Tuy nhiên Trung Quốc không sẵn sàng tham gia vào các thỏa thuận xác định quy tắc hành xử cho các vụ việc như thế này. Trung Quốc cũng đồng thời cũng không muốn thiết lập cơ chế liên lạc khủng hoảng trong trường hợp xảy ra hiểu nhầm giữa các thuyền trưởng các tàu của hai bên. Tại sao?
Có thể do một vài lý do. Trước hết là sự tự tin; Trung Quốc xem các lực lượng hải quân và không quân Mỹ là chuẩn mực vàng về năng lực quân sự và kinh nghiệm tác chiến. Trung Quốc muốn tránh phơi bày những điểm yếu cố hữu của lực lượng quân sự Trung Quốc, đặc biệt là trong trường hợp khủng hoảng.
Tiếp đến là sự khác biệt về mục tiêu cuối cùng. Trung Quốc cho rằng các cơ chế này sẽ là “đai an toàn” để Mỹ đẩy mạnh hoạt động. Trung Quốc muốn Mỹ kiềm chế không có những hoạt động gần với biên giới Trung Quốc và giảm dần việc triển khai lực lượng, chứ không muốn Mỹ có cảm giác được đảm bảo là các sự cố có thể được giải quyết hòa bình sau đó.
Ngoài ra là cách diễn giải khác nhau giữa các bên về chủ quyền. Trung Quốc lo ngại là một thỏa thuận tác chiến nhỏ cũng có thể làm giảm bớt tính chính đáng của đòi hỏi chủ quyền đường 9 đoạn của Trung Quốc. Cho đến gần đây vẫn có sự căng thẳng giữa bên đảng và bên quân đội về quy tắc can dự của PLA. Hiện nay dường như có sự phối hợp chặt chẽ hơn dưới thời Tập Cận Bình.
Các yếu tố toàn cầu cũng có vai trò trong vấn đề này. Mô hình vận hành như Mỹ đề xuất là một đặc thù của thời kỳ chiến tranh lạnh. Về mặt ngoại giao công chúng, Trung Quốc muốn tránh việc Mỹ có cảm nhận là Trung Quốc là một đối thủ toàn cầu giống như Liên Xô trước kia.
Cuối cùng, Trung Quốc và Mỹ theo đuổi các cách thức răn đe khác nhau. Mỹ thường triển khai một cách hùng hậu sức mạnh quân sự ra bên ngoài nhằm thị uy các đối tượng và đối thủ cạnh tranh. Với Trung Quốc, răn đe không phải thông qua việc thể hiện sức mạnh ra bên ngoài mà là qua việc tạo ra sự không chắc chắn trong nhận thức của các nước khác. Theo logic đó, càng ít có sự gần gũi và hiểu biết về lực lượng quân giải phóng nhân dân, răn đe càng có giá trị.
Như vậy Trung Quốc và Mỹ có văn hóa chiến lược khác nhau với những mục tiêu khác nhau liên quan đến các vụ đụng đầu tác chiến, việc tìm ra một hình mẫu có thể chấp nhận được là một thách thức. Tuy nhiên hai bên cần phải làm điều đó: sự ổn định toàn cầu phụ thuộc vào việc tránh xảy ra đụng độ giữa hai bên.
Theo NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Ba tổng thống Mỹ và một bí ẩn mang tên Putin

Ba tổng thống Mỹ và một bí ẩn mang tên Putin

Bill Clinton thấy ông lạnh lùng và đáng lo ngại, nhưng dự đoán ông sẽ là một lãnh đạo cứng rắn và có khả năng. George W. Bush muốn ông trở thành bạn bè và đối tác trong cuộc chiến chống khủng bố nhưng ngày càng vỡ mộng. Barack Obama thì cố gắng xây dựng mối quan hệ tốt đẹp hơn với ông, nhưng mối quan hệ song phương Nga - Mỹ ngày càng xấu đi và hiện ở đỉnh điểm tồi tệ từ khi chiến tranh Lạnh chấm dứt.
Suốt 15 năm, Tổng thống Nga Vladimir Putin đã khiến các đời tổng thống Mỹ bối rối và bực dọc khi họ cố gắng đánh giá ông nhưng càng làm càng sai. Ông thách thức các giả định và cự tuyệt các nỗ lực xây dựng tình bạn của họ. Ông tranh luận với họ, thuyết giảng, đánh lừa họ, cáo buộc họ, khiến họ phải chờ đợi, đồn đoán…
Mỗi người trong số ba tổng thống Mỹ kể trên đều cố gắng có cách riêng để tạo dựng một mốc lịch sử, nếu không nói là mối quan hệ mới với Nga. Nhưng nỗ lực của họ đều tan vỡ vì một bậc thầy võ thuật và một cựu đại tá KGB. Họ hình dung ông là một điều gì đó mà ông không phải. Họ nhìn ông bằng ống kính của riêng họ, tin rằng ông nhìn nhận các lợi ích Nga như họ nghĩ ông nên như thế.
Và cuối cùng, họ khó có thể tưởng tượng rằng họ đã không thể thay đổi việc Putin tiếp quản Crưm bất chấp hàng loạt biện pháp cấm vận. Để rồi đây, khi lực lượng Nga hiện diện ngập tràn khu vực biên giới giáp Ukraina, một cuộc tranh luận đã nổ ra về việc nên hay không chuyển từ cách làm việc sang đối đầu với ông như thế nào.
“Ông ấy tự mình công khai bản thân”, Tom Donilon, nguyên là cố vấn an ninh quốc gia của Tổng thống Mỹ Obama nói. “Rằng đó là người bạn phải đối phó”.
Nhìn lại, mọi trợ lý của ba người đều có đánh giá tương tự: Tổng thống của họ không ngây thơ về Putin, nhìn nhận ông đúng như những gì ông là thế, nhưng cảm thấy rằng có rất ít chọn lựa ngoài việc cố gắng thiết lập mối quan hệ tốt hơn. Có thể một số chính sách của họ đã làm ảnh hưởng tới cơ hội ấy khi khiến Putin bất bình hơn như mở rộng NATO, chiến tranh Iraq và Libya nhưng cuối cùng, họ vẫn thừa nhận, họ đang đối phó với một lãnh đạo Nga cơ bản là bất hoà với phương Tây.
“Tôi biết có một số chỉ trích rằng nỗ lực thiết lập lại (reset) quan hệ là khờ dại”, Donilon nói. Ông sử dụng cụm từ nói về chính sách của chính quyền Obama. “Nó là vì những lợi ích của Mỹ”.
Một số chuyên gia cho rằng, ông Obama và hai người tiền nhiệm đã chứng kiến những gì họ muốn thấy. “Phương Tây tập trung vào quan điểm Putin là người thực dụng, thực tế, người sẽ hợp tác với chúng tôi bất cứ khi nào thấy lợi ích chung”, James M. Goldgeier, trưởng khoa nghiên cứu quốc tế Đại học Mỹ nhấn mạnh.
Theo Eric S. Edelman, Thứ trưởng Quốc phòng dưới thời Bush, các nhà lãnh đạo Mỹ đã đánh giá quá cao khả năng của họ trong việc xoa dịu nỗi bất mãn của Putin với phương Tây. Để rồi sau 15 năm, không ai ở Washington còn nghĩ Putin là một đối tác. “Ông ấy đi ngủ với suy nghĩ của Peter Đại đế và thức giấc với tư duy của Stalin”, nghị sĩ Cộng hoà Mike Rogers - Chủ tịch Uỷ ban Tình báo Hạ viện nói. “Chúng ta cần hiểu ông ấy là ai và những gì ông muốn”.
Bush vỡ mộng
Clinton là vị tổng thống đầu tiên chạm trán với Putin cho dù không phải trong thời gian dài. Ông dành phần lớn nhiệm kỳ tổng thống của mình để xây dựng mối quan hệ mạnh mẽ với Tổng thống Boris Yeltsin, người tiền nhiệm của ông Putin và tin tưởng vào việc chọn lựa người kế nhiệm trở thành Thủ tướng Nga năm 1999, sau đó là Tổng thống.
“Tôi ra khỏi cuộc họp và tin rằng, Yeltsin đã chọn một người kế nhiệm có đủ khả năng, kỹ năng để làm những công việc cần thiết, quản lý sự hỗn loạn chính trị cũng như đời sống kinh tế nước Nga tốt hơn Yeltsin có thể”, Clinton viết trong hồi ký. Khi chọn lựa Putin được phê chuẩn trong cuộc bầu cử tháng 3/2000, ông Clinton đã gọi điện chúc mừng ông và như sau này ông viết “gác điện thoại là tôi nghĩ ông ấy đủ cứng rắn để nối kết nước Nga”.
Tuy nhiên, bản thân Clinton cũng lo lắng vì sự cứng rắn ấy. Ông thúc giục Yeltsin “trông nom” người kế nhiệm. Clinton cũng cảm thấy bị gạt sang lề khi Putin dường như thờ ơ trong việc hợp tác với một Tổng thống Mỹ sắp mãn nhiệm.
Tuy nhiên, đó là thời điểm Putin nhanh chóng cải tổ hệ thống thuế, đất đai và luật pháp Nga. Như Strobe Talbott, Thứ trưởng Ngoại giao thời Clinton đánh giá, Putin “đủ trẻ, đủ khéo léo và đủ thực tế để hiểu rằng, nước Nga đang diễn ra quá trình dịch chuyển cần thiết mà ông cần phải thúc đẩy nó”.
Bush nhậm chức với sự hoài nghi về Putin, gọi ông là “kẻ lạnh lùng” và có cuộc gặp đầu tiên với Putin tại Slovenia tháng 6/2001. Putin đã tạo sự kết nối với Bush bằng một câu chuyện về đức tin. Tuy nhiên, không phải ai cũng bị thuyết phục. Phó tổng thống Dick Cheney khi ấy đã nói rằng, lúc ông gặp Putin “Tôi nghĩ K.G.B., K.G.B., K.G.B”. Nhưng ông Bush đã quả quyết xoá nhoà sự chia cắt lịch sử và “ve vãn” Putin khi lãnh đạo Nga thăm trại David cũng như trang trại Texas của Bush.
Putin thích nói rằng, ông là nhà lãnh đạo nước ngoài đầu tiên gọi điện cho ông Bush sau vụ tấn công khủng bố 11/9/2001 và ông cho phép quân đội Mỹ vào Trung Á như một cơ sở hoạt động cho cuộc chiến ở Afghanistan.
Nhưng Putin lại không cảm thấy Bush đáp lại, quan hệ hai bên trở nên căng thẳng vì cuộc chiến Iraq và cách Kremlin đối phó với người bất đồng chính kiến ở Nga. Vào nhiệm kỳ thứ hai của Bush, hai bên tranh cãi về nền dân chủ Nga, và lên tới đỉnh điểm trong một cuộc gặp tại Slovakia năm 2005.
“Nó như cuộc tranh cãi thời trung học vậy”, Bush phàn nàn với Thủ tướng Anh Tony Blair. Sự thất vọng của ông về Putin gia tăng hơn nữa vào một năm sau đó. “Ông ấy không thạo tin”, Bush nói với Thủ tướng Đan Mạch năm 2006. “Giống như tranh cãi với học sinh lớp 8 về những lập luận sai lầm của mình”.
Ít tuần sau, Bush nói với một nhà lãnh đạo khác về Putin rằng: “Tôi nghĩ rằng, chúng tôi đã mất ông ấy”.
Lạnh như đá
Nhưng ông Bush không muốn từ bỏ thậm chí cả khi những người xung quanh không còn thấy cơ hội. Bộ trưởng Quốc phòng mới, Robert M. Gates, trở về từ cuộc gặp đầu tiên với Putin và nói với các cộng sự điều khác Bush, rằng, ông đã “nhìn vào mắt Putin và đúng như dự đoán, đó là một người lạnh như đá”.
Mùa xuân năm 2008, Bush đưa Ukraina và Grudia vào con đường gia nhập NATO, chia cắt liên minh và khiến Putin nổi giận. Tháng 8 năm đó, hai nhà lãnh đạo có mặt tại Bắc Kinh nhân Olympic mùa hè và khẩu chiến khi quân đội Nga tiến vào Grudia.
Trong hồi ký, Bush nhớ lại cuộc đối đầu với Putin. “Tôi cảnh báo ông Saakashvili rất nóng tính” (chỉ Tổng thống Grudia khi đó là Mikheil Saakashvili), Bush nói với Putin. “Tôi cũng nóng tính”, Putin đáp. “Không, ông là người máu lạnh”.
Bush đáp trả cuộc chiến Grudia bằng cách gửi viện trợ nhân đạo cho Grudia, điều một tàu chiến tới khu vực và ngừng thoả thuận hạt nhân dân sự với Nga.
Lo lắng Crưm sẽ là điểm tiếp theo, Bush đã thành công trong việc chặn bước Nga “nuốt chửng” hoàn toàn Grudia. Nhưng vào đêm trước sự sụp đổ của Lehman Brothers cũng như cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, ông đã không áp dụng các biện pháp cấm vận như Obama đang làm hiện nay.
“Chúng tôi và người châu Âu bị đẩy vào mối quan hệ tồi tệ vào cuối 2008”, Stephen J. Hadley, cố vấn an ninh quốc gia của Bush nhớ lại. “Chúng tôi muốn gửi đi thông điệp rằng, chiến lược này khó có thể chấp nhận. Giờ nghĩ lại, chúng tôi nên làm nhiều hơn nữa”. Nếu Bush không tiến hành những biện pháp trừng phạt mạnh mẽ nhất có thể thì người kế nhiệm ông đã sớm gây ra tranh luận về chuyện này. Chỉ sau vài tháng nhậm chức, Obama quyết định chấm dứt việc cô lập Nga vì vấn đề Grudia để tái thiết quan hệ hai nước.
Putin đã tuân thủ quy định hiến pháp giới hạn hai nhiệm kỳ của Nga, bước sang bên và chuyển giao quyền lực cho Dmitri A. Medvedev trong khi trở lại đảm nhận ghế thủ tướng. Vì thế, Obama quyết định cư xử với ông Medvedev như một nhà lãnh đạo thực sự.
Trước chuyến công du đầu tiên tới Moscow, ông Obama công khai tán dương ông Medvedev như một nhà lãnh đạo thế hệ mới.
Trong số những người hoài nghi Putin có Gates, vẫn đảm đương cương vị Bộ trưởng Quốc phòng và Hillary Clinton, tân Ngoại trưởng Mỹ. Cũng như ông Gates, bà Clinton rất nghi ngờ Putin. Tuy nhiên, cả hai đều nhất trí phải nỗ lực và bà đã cùng với người đồng cấp nhấn chiếc nút “reset” (thiết lập lại).
Canh bạc của Obama
Trong một khoảng thời gian, canh bạc của Obama với Medvedev dường như đã hoạt động. Họ khôi phục thoả thuận hạt nhân dân sự thời Bush, ký hiệp ước về vũ khí hạt nhân, thông qua thoả thuận cho phép quân đội Mỹ bay qua không phận Nga tới Afghanistan và hợp tác trong áp dụng lệnh trừng phạt với Iran.
Tuy nhiên, Putin không bỏ qua chuyện này. Năm 2012 ông đã trở lại ghế tổng thống và thể hiện rõ rằng, sẽ không để Obama “thao túng”.
Putin phớt lờ mọi nỗ lực của Obama nhằm khởi động những cuộc đàm phán hạt nhân mới, cho phép “kẻ tội đồ” Edward J. Snowden ẩn trú. Ông Obama đã hoãn một chuyến công du tới Moscow, tuyên bố không có liên hệ cá nhân với Putin.
Theo một số chuyên gia, cuối cùng, ông Obama đã không nhìn thấy cuộc cách mạng thân phương Tây tại Ukraina (lật đổ một đồng minh của Moscow) phản chiếu qua mắt nhìn Putin như thế nào. “Khi không có sự trao đổi đáng kể nào hay lòng tin tưởng giữa Obama và Putin, thì gần như là điều không thể nếu muốn sử dụng các cuộc điện đàm cấp cao để giải quyết vấn đề”, Andrew Weiss, nguyên cố vấn về Nga cho ông Clinton đánh giá.
Khi cố gắng tìm ra những gì phải làm để chấm dứt cuộc khủng hoảng Ukraina, Obama đã tiếp xúc với những nhà lãnh đạo khác vẫn duy trì quan hệ với Putin, trong đó có Thủ tướng Đức Angela Merkel. Bà nói với Tổng thống Mỹ, sau cuộc trao đổi với Putin, bà cho rằng, ông đã “ở một thế giới khác”. Ngoại trưởng John Kerry sau đó công khai nhấn mạnh, bài phát biểu của Putin về Crưm “không ăn nhập với thực tế”.
Đã nổ ra một cuộc tranh luận tại Washington: Putin đã thay đổi trong 15 năm qua và trở nên mất phương hướng theo một cách nào đó? Hay đơn giản là ông nhìn thế giới hoàn toàn khác biệt với phương Tây nên khó tìm ra điểm chung?
“Ông ấy không ảo tưởng, nhưng ông ấy sống trong một nước Nga của quá khứ - một phiên bản của quá khứ mà ông đã tạo ra”, Fiona Hill, quan chức tình báo hàng đầu về Nga thời Bush cho biết. “Hiện tại của ông được xác định bởi chính điều này và không có một tầm nhìn rõ ràng cho tương lai. Chính xác là ông đi tới đâu để giành lại ảnh hưởng trên các vùng lãnh thổ? Sau đó là gì?”.
Đó là câu hỏi mà vị tổng thống Mỹ hiện tại và có khả năng là người kế tiếp sẽ đặt ra trong thời gian tới.
Theo VIETNAMNET / NEW YORK TIMES

Cuộc đối đầu Đông - Tây sau khi Nga thu hồi Crimea

Cuộc đối đầu Đông - Tây sau khi Nga thu hồi Crimea

Có lẽ chưa khi nào kể từ thời Chiến tranh Lạnh, cụm từ “trừng phạt” lặp đi lặp lại nhiều đến vậy trong quan hệ vốn không mấy bình lặng giữa Nga với Mỹ và phương Tây.
Áp đặt các biện pháp trừng phạt lâu nay không phải là chuyện mới trong quan hệ ngoại giao, đặc biệt chúng vẫn được coi là vũ khí mà Mỹ và phương Tây sử dụng như một cách thể hiện sức mạnh đối với những nước mà họ “không ưa”. Mỹ và các đồng minh đã từng dọa loại Nga ra khỏi Nhóm G-8, hủy bỏ kế hoạch tập trận chung giữa Nga và NATO sau cuộc xung đột vũ trang giữa Nga và Gruzia hồi tháng 8/2008. Lần này, Mỹ và các nước phương Tây lại phản ứng bằng cách trừng phạt Nga sau sự kiện Moskva sáp nhập Crimea (Crưm).
Không thể phủ nhận rằng các biện pháp trừng phạt của Mỹ và phương Tây đang ảnh hưởng tiêu cực tới nền kinh tế Nga. Thị trường chứng khoán liên tục giảm điểm từ đầu tháng 3 cùng với đồng rúp trượt giá khiến các nhà phân tích dự đoán Nga đã mất hàng chục tỷ USD mỗi ngày. Dù năng lượng có thể coi là “vũ khí” của Moskva, song nếu phương Tây chặn 80% lượng khí đốt xuất khẩu của Nga thì GDP của nước này sẽ giảm khoảng 10% từ nay đến năm 2015.
Thế nhưng, có lẽ cả Mỹ và châu Âu dường như cũng đang nếm phần trái đắng từ chính những bước đi của mình. Nga khẳng định sẽ có những biện pháp đáp trả dựa trên nguyên tắc “có đi có lại”. Điều đáng nói là chính các biện pháp trừng phạt mà Mỹ và phương Tây áp đặt với Nga chắc chắn sẽ có tác dụng ngược lại theo kiểu “gậy ông đập lưng ông”, khiến các doanh nghiệp Mỹ và châu Âu thiệt hại hàng tỷ USD.
Các nước châu Âu đang phụ thuộc đáng kể vào Nga về năng lượng, thương mại, đầu tư... Chính Thủ tướng Đức Angela Merkel đã phải thừa nhận rằng phương Tây không thể đạt được sự đồng thuận về các biện pháp trừng phạt kinh tế chống Nga. Mặc dù không quá phụ thuộc vào Nga, song Mỹ cũng sẽ phải trả giá khi thực hiện các biện pháp trừng phạt, nhất là khi hãng chế tạo máy bay Boeing đang phải nhập từ Nga 40% nhu cầu titan, vật liệu tối quan trọng cho sản xuất máy bay Boeing 787 Dreamliner.
Giới phân tích nhận định rằng nếu Nga và phương Tây tiếp tục trả đũa lẫn nhau, mọi chuyện có thể vượt khỏi tầm kiểm soát, kéo theo những hệ lụy khó lường.
EU, với 30% nhu cầu khí đốt và 32% nhu cầu dầu mỏ phụ thuộc vào Nga, sẽ rơi vào khủng hoảng nếu Moskva ngừng bơm khí đốt để đáp trả lệnh trừng phạt kinh tế. Theo dự đoán, nếu Nga ngừng cung ứng khí đốt và phương Tây áp dụng các biện pháp trả đũa về tài chính, giá khí đốt sẽ tăng khoảng 15% và dầu mỏ tăng 10% trên thị trường châu Âu, GDP của các nước trong khu vực sử dụng đồng euro giảm 1,5% và tăng trưởng kinh tế của một số nước Đông Âu sẽ giảm tới 3%.
Quan hệ với Nga căng thẳng cũng đồng nghĩa với việc Mỹ và phương Tây gặp khó khăn khi ứng phó với các thách thức toàn cầu. Với tư cách là một cường quốc, một ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an LHQ, vai trò của Nga mang tính then chốt giúp giải quyết các vấn đề quốc tế nóng bỏng. Thỏa thuận hạt nhân mang tính đột phá giữa Nhóm P5+1 với Iran, hay việc tháo ngòi nổ cho một cuộc chiến tranh mới ở Trung Đông khi Syria chấp thuận tiêu hủy kho vũ khí hóa học, đều mang đậm dấu ấn đóng góp của Nga. Kế hoạch của Mỹ và NATO rút quân khỏi Afghanistan vào cuối năm nay hẳn sẽ khó thực hiện được nếu thiếu “tuyến hậu cần tối quan trọng" qua Nga.
Trong một thế giới toàn cầu hóa, mối ràng buộc giữa các quốc gia trên nhiều phương diện ngày càng tăng. Vì thế, mọi biện pháp trừng phạt nhằm vào Nga đều tạo ra những tác động đa chiều đối với nhiều nước khác. Hơn bao giờ hết, các bên liên quan cần có cách ứng xử thận trọng và phù hợp theo hướng cân bằng lợi ích, vì hòa bình và ổn định trên thế giới.
Theo BÁO TIN TỨC

Nhận diện cuộc đọ sức chiến lược Mỹ - Trung

Nhận diện cuộc đọ sức chiến lược Mỹ - Trung


Cho dù tiếp xúc và hợp tác giữa Mỹ và Trung Quốc ngày càng chặt chẽ, nhưng sự ổn định của mối quan hệ song phương này ngày càng giảm đi rõ rệt.
Bài viết được đăng tải trên tạp chí “Quan hệ quốc tế hiện đại” - Trung Quốc.

Quan hệ giữa Trung Quốc và Mỹ đang ngày càng trở nên nhạy cảm, sự không tin cậy lẫn nhau thể hiện rõ, hai bên đều có cảm giác hoài nghi đối với khả năng và ý đồ của đối phương cũng như tập trung chú ý cao độ trước nhất cử nhất động của đối phương; hai bên đọ sức về các lĩnh vực như kinh tế, thương mại, địa-chính trị và an ninh, rơi vào vòng tuần hoàn ác tính nghi ngờ và cạnh tranh lẫn nhau gay gắt và không ngừng tăng lên. Điều này khiến cho mối quan hệ hai nước lên xuống thất thường hơn nữa. Từ góc độ kết cấu trong quan hệ hai nước thay đổi, rất nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã tìm kiếm nguyên nhân của hiện tượng này. Trọng điểm của bài viết này là phân tích những thay đổi đó từ góc độ chuyển đổi mô hình của hai nước Trung Quốc và Mỹ cũng như hệ thống quốc tế, và lấy đó làm nền tảng để có những tính toán sơ lược về tính chất, đặc điểm quan hệ Trung-Mỹ trong tương lai.
I.
Tổng hợp những nghiên cứu của giới học thuật và truyền thông của hai nước, đại thể có một số lý giải sau về nguyên nhân suy giảm tính ổn định trong mối quan hệ hai nước: một là cho rằng hiện nay Trung Quốc đã trở thành nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới, và đứng ở vị trí thứ nhất trong các lĩnh vực khác, quan hệ Trung-Mỹ đã hoặc sẽ rất nhanh trở thành mối quan hệ giữa “anh cả” và “anh hai”, thậm chí là giữa “hai siêu cường” với nhau. Theo luận thuyết “nước mạnh tất sẽ bá quyền” và lịch sử chèn ép “anh hai” của Mỹ, mâu thuẫn giữa Trung Quốc và Mỹ tất sẽ gay gắt hơn. Hai là cho rằng cùng với việc Mỹ thực thi chiến lược “tái công nghiệp hóa” cũng như nâng cấp các sản phẩm “Made in China” (Sản xuất tại Trung Quốc) lên trung-cao cấp, phương thức dựa vào nhau giữa các sản phẩm “Made in China và sự tiêu dùng của Mỹ” rất khó được duy trì liên tục, hai nước sẽ bùng nổ cuộc cạnh tranh thương mại gay gắt; quốc tế hóa đồng nhân dân tệ sẽ dần dần đe dọa vị thế đồng tiền dự trữ quốc tế USD; “phương thức Trung Quốc” lấy “chủ nghĩa tư bản nhà nước” làm đặc trưng sẽ tạo thành mối đe dọa đối với “chủ nghĩa tư bản tự do” kiểu Mỹ; ba là cho rằng Mỹ coi châu Á-Thái Bình Dương là khu vực then chốt trong việc lãnh đạo toàn cầu của mình, thông qua nhiều phương thức để tham gia các công việc khu vực, cố gắng kéo Trung Quốc vào trật tự khu vực do Mỹ chủ đạo; còn châu Á-Thái Bình Dương là điểm tựa chiến lược để Trung Quốc trỗi dậy, Trung Quốc có ý đồ gạt bỏ Mỹ và cuối cùng xây dựng trật tự khu vực do mình chủ đạo. Mâu thuẫn trong việc tranh giành quyền lãnh đạo giữa Mỹ và Trung Quốc ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương rất khó điều hòa. Những quan điểm này tương đối phổ biến trong giới học thuật và truyền thông hai nước hiện nay. Vấn đề là liệu giữa Trung Quốc và Mỹ đã thực sự xuất hiện những thay đổi mang tính kết cấu có ý nghĩa thực chất không? Nếu thực sự có những thay đổi mang tính kết cấu nào đó, thì nó đã làm suy yếu tính ổn định của mối quan hệ Trung-Mỹ ở mức độ rất lớn. Vì vậy, chúng ta cần phải xem xét kỹ lưỡng so sánh sức mạnh, quan hệ kinh tế và cạnh tranh quyền lực giữa Trung Quốc và Mỹ ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương.
Trước tiên, xem xét từ góc độ so sánh sức mạnh giữa hai nước. Việc cân bằng sức mạnh tổng hợp của một quốc gia cần phải tính đến rất nhiều mặt như nguồn của cải tự nhiên, kinh tế, quân sự, khoa học kỹ thuật, văn hóa, xã hội và tiềm lực phát triển, chứ không thể lấy tiêu chí quy mô kinh tế làm tiêu chuẩn mang tính quyết định. Từ đó có thể thấy sức mạnh kinh tế của Nga rõ ràng mạnh hơn so với Trung Quốc, sức ảnh hưởng chính trị của Liên minh châu Âu (EU) bền vững hơn, về “lượng”, kinh tế Nhật Bản tuy không bằng Trung Quốc, nhưng về “chất” lại cao hơn Trung Quốc. Cho dù tổng lượng kinh tế của Trung Quốc vượt qua Mỹ, sức mạnh tổng hợp của nước này vẫn còn kém xa Mỹ. Vì vậy, nói một cách chuẩn xác vị thế “anh hai” của Trung Quốc vẫn chỉ là một trong nhiều “anh hai” ngang hàng với nhau. Nói Trung Quốc và Mỹ là cuộc cạnh tranh giữa “hai siêu cường” chỉ là sự phán đoán trong tương lai chứ không phải là hiện thực.
Thứ hai, xem xét từ mối quan hệ kinh tế giữa Trung Quốc và Mỹ. Do sự khác biệt rất lớn về giai đoạn phát triển giữa hai nước, thị trường nhu cầu trong nước lớn mạnh của Trung Quốc và nhu cầu liên tục đầu tư ra nước ngoài của Mỹ khiến cho không gian hợp tác bổ trợ lẫn nhau về thương mại giữa hai nước vẫn rất rộng lớn. Xét thấy “ưu thế tại vị” của đồng USD cũng như việc tích lũy đồng nhân dân tệ vẫn cần thời gian, đồng USD với tư cách là đồng tiền dự trữ quốc tế vẫn sẽ chiếm vị trí chủ đạo trong thời gian tương đối dài, Trung Quốc vẫn khó có thể tạo thành những thách thức thực chất đối với việc bá quyền tiền tệ của Mỹ. Sự khác biệt trong phương thức, cách xử lý giữa Trung Quốc và Mỹ với cái gọi là “chủ nghĩa tư bản nhà nước” và “chủ nghĩa tư bản tự do” cũng có sự thổi phồng. Nhà kinh tế học và lịch sử nổi tiếng Alex Ferguson nêu rõ các số liệu cho thấy Chính phủ Trung Quốc chưa phát huy vai trò lớn hơn so với chính phủ các nước phương Tây trong việc vận hành kinh tế, hơn nữa dường như tất cả bản chất của các nước hiện đại đều là “chủ nghĩa tư bản nhà nước”. Từ đó cho thấy việc quả quyết cho rằng giai điệu chính của mối quan hệ kinh tế Trung-Mỹ chuyển từ hợp tác sang cạnh tranh dường như là thiếu chứng cứ.
Thứ ba, xem xét cuộc đọ sức giữa Trung Quốc và Mỹ ở châu Á-Thái Bình Dương. Trung Quốc chiếm ưu thế về sức mạnh kinh tế còn Mỹ chiếm ưu thế về lĩnh vực an ninh. Trong thời gian ngắn, vị thế của hai nước ở châu Á-Thái Bình Dương không thể có sự thay đổi, hơn nữa đại đa số các nước châu Á-Thái Bình Dương trong thời gian ngắn cũng khó có thể thay đổi được chiến lược “hai mặt” đó là an ninh dựa vào Mỹ, giành được lợi về mặt kinh tế. Vì thế, mối quan hệ tam giác “Trung-Mỹ-các nước láng giềng về cơ bản vẫn ổn định. Đồng thời, châu Á-Thái Bình Dương với tư cách là trung tâm quyền lực thế giới, sức mạnh chủ yếu trên toàn cầu đều đầu tư mạnh vào nơi đây, bất kỳ nước nào muốn chủ đạo toàn diện khu vực này đều không phải là chuyện dễ dàng. Từ sự trao đổi song phương giữa Mỹ và Trung Quốc cho thấy sau khi thử thăm dò lẫn nhau, hai nước tìm hiểu nhiều hơn ý đồ và giới hạn cuối của đối phương; để phòng ngừa tình hình xấu đi, Trung Quốc và Mỹ đã xây dựng cơ chế như đối thoại an ninh chiến lược và bàn bạc các công việc châu Á-Thái Bình Dương. Điều này cũng là một phần để giảm đi những rủi ro do phán đoán sai lầm và mất kiểm soát. Cho nên, mâu thuẫn giữa Trung Quốc và Mỹ ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương là có thể điều hòa được, xung đột chỉ là một khả năng chứ không phải là lẽ tất yếu.
Căn cứ vào những phân tích trên, bài viết cho rằng trong kết cấu của mối quan hệ Trung-Mỹ quả thực đã xuất hiện một số thay đổi nào đó, và trở thành nguyên nhân trực tiếp ảnh hưởng đến việc ổn định mối quan hệ hai nước. Nhưng những thay đổi mang tính kết cấu này đang ở giai đoạn tuần tự dần thay đổi, sẽ thay đổi nhưng chưa thay đổi. Không như đông đảo mọi người cho rằng mức độ thay đổi không phải là biến lượng duy nhất làm suy yếu tính ổn định của mối quan hệ hai nước; tính ổn định của mối quan hệ Trung-Mỹ suy giảm, về bề ngoài là do “mối quan hệ” đang thay đổi, thực tế là do môi trường thời gian và không gian của hai nước Trung Quốc và Mỹ đang thay đổi.
Trước tiên, hệ thống quốc tế hiện nay đang trải qua sự chuyển đổi mô hình sâu sắc, qua nhiều thời đại, hệ thống này đồng thời tồn tại và đan xen nhau. Nếu như nói những năm 90 thế kỷ 20 có thể lấy “thời đại hậu Chiến tranh Lạnh” làm chuẩn, 10 năm đầu của thế kỷ này có thể lấy “thời đại hậu 11/9” làm chuẩn, vậy thì 10 năm tiếp theo dường như khó có thể lấy riêng “thời đại hậu nào đó” để định nghĩa. Về kinh tế toàn cầu, do cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu kéo dài, kinh tế Mỹ trong thời gian ngắn khó có thể xoay chuyển, các nước mới nổi phát triển trở lại với tốc độ nhanh, trong khoảng thời gian tới, kinh tế thế giới vẫn trong “thời đại hậu khủng hoảng”. Về cơ cấu quyền lực, do các nước phương Tây gặp phải khó khăn trong việc phát triển, thực lực của các nước phi phương Tây ngày càng mạnh, trọng tâm quyền lực nhanh chóng chuyển từ Đại Tây Dương sang Thái Bình Dương, sự suy yếu của các nước phương Tây và phương thức phát triển của các nước này ngày càng trở thành đề tài tranh cãi của các nước. Tuy vị thế chủ đạo của các nước phương Tây không gặp phải trở ngại trong thời gian ngắn, nhưng sự trỗi dậy của “thuyết về sự suy yếu của phương Tây” đủ để cho thấy vị thế yếu kém của các nước này. “Thời đại hậu phương Tây” tuy không thể nhanh chóng trở thành hiện thực, nhưng lại là một trong những cách nhìn nhận của mọi người khi quan sát thế giới. Về chính trị quốc tế, cùng với giai cấp trung lưu phát triển lớn mạnh, dân chúng tham gia nhiều hơn vào đời sống chính trị, quyền lực ngày càng mở rộng và dịch chuyển từ chính phủ và các giới tinh hoa sang các tổ chức phi chính phủ, phi quốc gia v.v... Quyền lực của chính phủ các nước và của những tinh hoa chính trị gặp phải thách thức mang tính lịch sử. Điều này cho thấy thế giới đang bước vào “thời đại hậu quyền lực”. Từ đó khiến cho nền chính trị của các nước và môi trường quốc tế thay đổi cũng như nội hàm có những ý nghĩa sâu xa. Qua đó cho thấy thế giới hiện nay đang ở thời kỳ chuyển đổi mô hình sâu sắc và có tính không xác định rất lớn. Chính vì thế, Kissinger cho rằng tình hình hiện nay vẫn là “cục diện biến đổi lớn” mà 400 năm chưa từng xảy ra. Còn ông Kennedy cũng cho rằng chúng ta đang ở “thời đại phân chia ranh giới” có những biến đổi lớn mà không thể tự biết.
Thứ hai, hai nước Trung Quốc và Mỹ cũng đang đồng thời trải qua sự chuyển đổi mô hình nhà nước vô cùng khó khăn. Cho dù giai đoạn và tình hình phát triển của hai nước không giống nhau, nhưng vấn đề hai nước gặp phải lại có tính tương tự - hai nước đều cần phải dốc sức vào giải quyết một loạt vấn đề mang tính thể chế xuất hiện sau khi cải cách tự do hóa kinh tế để thực hiện phát triển bền vững. Về kinh tế, hai nước Trung Quốc và Mỹ đều đứng trước nhiệm vụ ưu hóa kết cấu kinh tế và điều chỉnh phương thức tăng trưởng, cần phải điều chỉnh lại một cách thích hợp mối quan hệ giữa chính phủ và thị trường, sản xuất và tiêu dùng. Mỹ cần phải thay đổi phương thức phát triển quá độ dựa vào tiêu dùng trong nước và kinh tế ảo để điều chỉnh sự tăng trưởng, phục hưng ngành chế tạo, thực hiện “tái công nghiệp hóa”, mở rộng xuất khẩu ra nước ngoài và thực hiện cân bằng thu chi; Trung Quốc cần thực hiện việc thay đổi phương thức phát triển từ lao động tập trung sang lao động trí óc, từ thúc đẩy xuất khẩu sang thúc đẩy nhu cầu trong nước, từ mô hình quảng canh sang mô hình thâm canh tăng năng suất, định vị lại vai trò của chính phủ trong đời sống kinh tế. Về chính trị, hai nước đều đứng trước nhiệm vụ vô cùng khó khăn đó là tăng cường nhận thức chung trong nước, nâng cao sức quy tụ và hoạt động chính trị. Mỹ cần xoay chuyển tình hình đa cực hóa cao độ nền chính trị hiện nay, sự đối đầu gay gắt giữa hai đảng phái v.v... , tìm tòi thảo luận làm thế nào để điều chỉnh một cách hoàn thiện phương thức vận hành và xây dựng cơ chế chính trị, giảm bớt những hao tổn sức người, sức của vô ích trong xã hội, nâng cao hiệu suất; Trung Quốc cần lại một lần nữa giải phóng tư tưởng, quy tụ nhận thức chung. Về mặt xã hội, hai nước đều đứng trước nhiệm vụ đẩy mạnh giai cấp trung lưu, thu hẹp khoảng cách chênh lệch quá lớn giữa giàu và nghèo, tái xây dựng cơ cấu ổn định xã hội v.v... Về ngoại giao, Trung Quốc và Mỹ cũng buộc phải đưa ra những điều chỉnh đối với chiến lược đối ngoại trong tình hình môi trường quốc tế và vị thế thực lực nhà nước thay đổi.
Hệ thống quốc tế và tình hình phức tạp của việc hai nước chuyển đổi mô hình là chưa từng xảy ra từ khi Trung Quốc và Mỹ tiếp xúc với nhau trong những năm 70 thế kỷ 20 đến nay. Điều này đã đem đến tính không xác định chưa từng có cho xu thế quan hệ hai nước. Với tình hình Chiến tranh Lạnh, tính chất và xu thế của mối quan hệ Trung-Mỹ là xác định; sau thời kỳ Chiến tranh Lạnh, do ưu thế độc quyền của Mỹ và thực lực của Trung Quốc và Mỹ quá chênh lệch, xu thế cơ bản của mối quan hệ hai nước vẫn có tính xác định tương đương; sau “sự kiện 11/9”, chống khủng bố trở thành đề tài chính trị quốc tế và là mục tiêu ưu tiên chiến lược toàn cầu của Mỹ, quan hệ Trung-Mỹ triển khai trong khuôn khổ này cũng đã cho thấy rõ tính ổn định ở mức tương đương. Nhưng cùng với tình hình biến đổi, chủ đề thời đại ngày càng rộng hơn, mâu thuẫn chủ yếu càng khó xác định, hệ thống quốc tế chuyển đổi mô hình sâu sắc nhưng phương hướng không rõ ràng. Điều phức tạp hơn là trong bối cảnh đó, hai nước cũng đồng thời trải qua sự chuyển đổi mô hình nhà nước và gặp phải những trở ngại từ việc chuyển đổi đó, và như vậy liệu hai nước có thể thực hiện một cách thuận lợi việc chuyển đổi mô hình hay không? Điều này vẫn chưa thể biết. Chịu ảnh hưởng của điều đó, xu hướng của mối quan hệ Trung-Mỹ sẽ xuất hiện nhiều khả năng. Mấy năm gần đây, giới truyền thông và học giả hai nước đều quan tâm đánh giá thực lực và vị thế của hai nước; hai nước đều khó có thể nhìn nhận một cách khách quan những thay đổi mang tính kết cấu của mối quan hệ song phương này. Mỹ phê phán Trung Quốc có dã tâm bành trướng, ngày càng kiêu căng tự phụ, Trung Quốc thì lo ngại Mỹ sẽ bao vây và kiềm chế Trung Quốc. Các vụ như “va chạm tàu Cheonan”, “vụ Google”, tình hình bạo loạn ở Trung Đông-Bắc Phi cũng luôn khiến cho mối quan hệ Trung-Mỹ thể hiện rõ tính cạnh tranh, không ổn định và căng thẳng trong mấy năm gần đây. Tóm lại, trong bối cảnh “tình hình có những thay đổi lớn”, hai nước Trung Quốc và Mỹ không đủ tự tin và năng lực để đối phó với tình hình phức tạp, không xác định được khả năng và ý đồ của đối phương, sự tự tin và tin tưởng lẫn nhau giảm sút, những phán đoán và phản ứng quá khích tự nhiên khó có thể tránh khỏi.
II.
Bất luận là sự chuyển đổi mô hình nhà nước của Trung Quốc, của Mỹ hay là sự chuyển đổi mô hình của hệ thống quốc tế đều sẽ là một quá trình vô cùng phức tạp và dài đằng đẵng. Trong thời kỳ “tình hình biến đổi lớn” như vậy, quan hệ Trung-Mỹ tất nhiên sẽ xuất hiện một số đặc điểm mới. Ngoài sự nhạy cảm, tính cạnh tranh và không ổn định tiếp tục gia tăng nêu trên, quan hệ Trung-Mỹ sẽ có tính sáng tạo lớn. Bất luận là đối với Mỹ hay là đối với Trung Quốc, hai nước này đều muốn mối quan hệ Trung-Mỹ trong tương lai càng có lợi hơn đối với bản thân. Trung Quốc và Mỹ vừa có thể thông qua việc chuyển đổi mô hình nhà nước của bản thân để nâng cao ưu thế chiến lược của mình, vừa có thể thông qua cách thức tư duy và tiến trình chuyển đổi mô hình để ảnh hưởng tích cực đến đối phương, bảo đảm chắc chắn việc đưa ra sự lựa chọn chiến lược không có hại, thậm chí có lợi cho bản thân. Ngoài ra, hai nước còn có thể thông qua việc mở rộng hợp tác chiến lược với đối phương để đối phó với những thách thức chung trong việc chuyển đổi mô hình hệ thống quốc tế. Trong tình hình lợi ích Trung-Mỹ đan xen nhau sâu sắc và mâu thuẫn về tổng thể có thể khống chế được, khả năng giữa Trung Quốc và Mỹ xảy ra xung đột quân sự hoặc đối kháng chính trị là tương đối thấp. Đối với hai nước, việc xóa bỏ tính không xác định và cảm giác bất an do “tình hình có những biến đổi lớn” cũng như lợi dụng đầy đủ việc chủ động, sáng tạo trong xây dựng mối quan hệ Trung-Mỹ kiểu mới đều là sự lựa chọn chiến lược mang tính lý trí, và rất có thể trở thành đặc trưng chủ yếu của mối quan hệ Trung-Mỹ trong thời gian tới. Điều này nói lên quan hệ Trung-Mỹ tuy có những rủi ro do xung đột, nhưng lại không có nghĩa tất yếu phải theo hướng đọ sức chiến lược mang tính đối kháng, mà càng có thể xuất hiện cuộc đọ sức chiến lược kiểu hai mặt giữa hai nước để xóa đi tính không xác định và cảm giác bất an. Cụ thể, cuộc đọ sức này sẽ chủ yếu thể hiện ở 3 mặt sau:
Một là, tự mình tạo dựng. Trong bối cảnh “tình hình có những biến đổi lớn”, các nhà quyết sách và giới chiến lược hai nước ngày càng nhận thức được rằng trọng tâm và nền tảng của việc bảo đảm chắc chắn an ninh và phồn vinh đất nước, nâng cao vị thế quốc tế của bản thân đều là ở trong nước. Vì thế, trong khoảng thời gian tương đương, trọng tâm của hai nước là giải quyết các vấn đề của bản thân, làm tốt các công việc trong nước, nâng cao trình độ phát triển bền vững. Về phía Mỹ, cuộc khủng hoảng tài chính tiếp tục phát triển vừa bộc lộ rõ và làm gia tăng các mâu thuẫn về kinh tế, chính trị và xã hội trong nước, vừa tạo thành những ảnh hưởng đối với vị thế lãnh đạo toàn cầu của Mỹ. Vì vậy, đẩy mạnh việc “tự mình tạo dựng” vừa là sự theo đuổi chung của đông đảo các nước trên thế giới, vừa là biện pháp cơ bản để đối phó với sự trỗi dậy của nước khác, bảo đảm chắc chắn vị thế lãnh đạo toàn cầu của Mỹ; lợi dụng môi trường quốc tế tương đối có lợi như chủ nghĩa khủng bố hiện nay “bị trọng thương”, đông đảo các nước khác bị tổn thương, ưu thế của Mỹ vẫn nổi bật, việc tái tạo sức cạnh tranh kinh tế, lực hướng tâm chính trị và sức sống trong xã hội đều có tính chiến lược cấp bách rõ rệt. Sau khi lên nhậm chức, Obama coi các công việc trong nước là trọng điểm của việc thực thi chính sách. Sau khi cuộc chiến tranh Irắc kết thúc, rút khỏi cuộc chiến Ápganixtan, Mỹ dốc sức cải cách các vấn đề như y tế, tiền tệ, năng lượng, thuế, giáo dục và nhập cư. “Báo cáo chiến lược an ninh quốc gia Mỹ” năm 2010 cũng nhấn mạnh nền tảng vị thế lãnh đạo toàn cầu của Mỹ là ở trong nước, và cho rằng việc tái tạo sức cạnh tranh của Mỹ là nền tảng và trọng điểm trong chiến lược toàn cầu. Từ đó cho thấy Mỹ rất coi trọng việc “tự mình tạo dựng”. Đối với Trung Quốc, cần phải thay đổi cùng lúc môi trường trong và ngoài nước, giải phóng tư tưởng, giải quyết các vấn đề, xử lý ổn thỏa các mối quan hệ giữa chính phủ và thị trường, trung ương và địa phương, thành thị và nông thôn, kinh tế và xã hội, chính phủ với các tổ chức xã hội và dân chúng cũng như mối quan hệ giữa trong nước và ngoài nước; thực hiện điều chỉnh toàn diện từ cơ chế đến chiến lược, từ phương thức đến phương hướng, tích cực chủ động làm tốt việc chuyển đổi mô hình nhà nước để giành được sự chủ động hơn trong mối quan hệ với Mỹ cũng như mối quan hệ với bên ngoài trong tương lai. Từ đó việc “tự mình tạo dựng” của hai nước Trung Quốc và Mỹ vừa là công việc nội chính, vừa là công việc ngoại giao. Mỗi công việc đều có những tính toán kép để đối phó với sức ép trong nước và thách thức từ bên ngoài, và sẽ có những ảnh hưởng sâu sắc đối với mối quan hệ hai nước. Ngoài ra, để khắc phục những trở ngại trong việc chuyển đổi mô hình, hai nước cũng sẽ thử áp dụng biện pháp cạnh tranh với đối phương, thông qua việc nhấn mạnh đến mối đe dọa của đối phương để quy tụ nhận thức chung về chính trị, hóa giải những tiếng nói phản đối, nhấn mạnh đến việc dựa vào và thúc đẩy lực lượng bên ngoài trong việc “tự mình tạo dựng”. Ví dụ, trong thông điệp liên bang, Obama đã nhiều lần đề cập đến những thành tựu của Trung Quốc và tuyên bố “Mỹ quyết không làm anh hai”. Tóm lại, giữa việc phát triển mối quan hệ Trung-Mỹ với việc chuyển đổi mô hình nhà nước của hai nước sẽ không thể tránh khỏi tình hình phức tạp đan xen nhau, ảnh hưởng lẫn nhau sâu sắc, khiến cho việc “tự mình tạo dựng” trở thành một trong những hình thức biểu hiện chủ yếu của cuộc cạnh tranh Trung-Mỹ.
Hai là tạo dựng cho nhau. Hiện thực hai bên không muốn nhìn thấy nhưng lại cần phải đối mặt đó là tính không xác định của việc chuyển đổi mô hình nhà nước của hai nước đã đem lại những rủi ro cho quan hệ hai nước. Mỹ lo ngại sự bành trướng của Trung Quốc càng mạnh lên, khó có thể dự đoán, còn Trung Quốc thì lo ngại Mỹ sẽ áp dụng chính sách đối với Trung Quốc mang tính thù địch hơn và phá hoại hơn. Sự hoài nghi về chiến lược giữa hai nước tăng lên rõ rệt đã trở thành vấn đề nổi bật ảnh hưởng đến tính ổn định trong mối quan hệ hai nước. Nhưng những nghi ngờ về chiến lược không thể chỉ thông qua phương thức giao lưu giữa các tầng lớp lãnh đạo cấp cao hai nước để xóa bỏ, mà cần đề phòng tai họa trước khi xảy ra, tăng khả năng kiểm soát, dự đoán đối với tư tưởng, hành vi và phương hướng phát triển của đối phương v.v.... Những điều này vừa làm sâu sắc thêm và phát triển chiến lược tiếp xúc truyền thống với Trung Quốc của Mỹ, vừa là nhu cầu khách quan của Trung Quốc trong việc ưu hóa hơn nữa chiến lược đối với Mỹ trong thời kỳ mới. Quan hệ Trung-Mỹ trải qua mấy chục năm hình thành cơ chế và kênh giao lưu, đem lại khả năng và nền tảng tạo dựng cho nhau giữa hai nước. Trước đây, giữa Trung Quốc và Mỹ đã có sự tạo dựng cho nhau ở mức độ nhất định, chủ yếu thể hiện ở việc Mỹ - thế lực mạnh - gây sức ép với Trung Quốc, và Trung Quốc tương đối bị động so với Mỹ. Khả năng tạo dựng của Mỹ đối với Trung Quốc cũng chủ yếu tập trung ở các lĩnh vực đặc biệt như ý thức hệ và môi trường phát triển bên ngoài của Trung Quốc. Trong tương lai, Trung Quốc và Mỹ nhân việc chuyển đổi mô hình của đối phương để can dự nhiều hơn vào công việc nội bộ, gây ảnh hưởng ngầm, sâu sắc đối với quan niệm tư tưởng, đời sống chính trị và quyết sách chiến lược của đối phương. Điều đó rất có thể trở thành biện pháp quan trọng của việc tạo dựng cho nhau giữa hai nước. Thời gian tới, cùng với việc nâng cao hơn nữa khả năng và ý thức đọ sức của Trung Quốc, khả năng tạo dựng đối với Mỹ tất sẽ được tăng cường hơn nữa. Đương nhiên, hiện thực khách quan của việc tạo dựng cho nhau giữa hai nước không thể bằng việc đối phương can dự vào việc chuyển đổi mô hình của nước mình. Bên cạnh việc nỗ lực tạo dựng cho đối phương, hai nước cũng sẽ áp dụng biện pháp nhất định để phòng ngừa và khống chế đối phương, bảo đảm chắc chắn sự độc lập, tự chủ trong hành động và tư tưởng của nước mình.
Ba là, cùng nhau tạo dựng là kết quả của “tự mình tạo dựng” và “tạo dựng cho nhau” đã nêu ở trên. Việc cùng nhau tạo dựng có thể quyết định nước nào sẽ có quyền chủ động hơn trong việc đề phòng cạnh tranh mất kiểm soát, nhưng không thể giảm đi cường độ cạnh tranh, ngược lại có thể gia tăng cạnh tranh. Với bối cảnh “tình hình có những thay đổi lớn”, nếu Trung Quốc và Mỹ dừng lại ở việc nâng cao ưu thế của nước mình mà thiếu sự hợp tác mang tính thực chất, quan hệ hai nước chỉ thực hiện được sự ổn định tiêu cực. Hơn nữa, môi trường bên ngoài của mối quan hệ Trung-Mỹ đang thay đổi, nếu như mối quan hệ này ngừng trệ tất nhiên sẽ đứng trước ngày càng nhiều bất trắc và rủi ro. Vì thế, mối quan hệ Trung-Mỹ cần phải thực hiện việc nâng cấp chuyển đổi mô hình từ “quản lý khủng hoảng” đến “giúp đỡ lẫn nhau”. Hai nước Trung Quốc và Mỹ đều là những nước được hưởng lợi từ hệ thống quốc tế hiện hành và cũng là những nước khởi xướng cải cách hệ thống quốc tế bằng phương thức tiệm tiến. Quy mô và thực lực to lớn của hai nước đã quyết định mục tiêu chiến lược của Mỹ là “kết nạp Trung Quốc vào hệ thống quốc tế” và mục tiêu chiến lược của Trung Quốc là “tích cực hòa nhập vào hệ thống quốc tế” đều không thể thực hiện được trong tình hình hệ thống quốc tế giữ nguyên trạng. Tóm lại, hai nước Trung Quốc và Mỹ xác định mục tiêu cùng nhau tạo dựng hệ thống quốc tế, mục tiêu đó cần phải trở thành phương hướng trọng điểm, hơn nữa có thể trở thành giai đoạn phát triển sau của mối quan hệ hai nước.
Trong tương lai, Trung Quốc và Mỹ có thể bắt tay vào cùng nhau tạo dựng tối thiểu 3 lĩnh vực trọng điểm: quản lý khu vực châu Á-Thái Bình Dương, quản lý các nơi công cộng trên toàn cầu và quản lý nền kinh tế toàn cầu. Việc chấn hưng nền kinh tế toàn cầu là đề tài cấp bách nhất mà hai nước Trung Quốc và Mỹ cũng như đông đảo các nước trên thế giới hiện nay vô cùng quan tâm. Nhiệm vụ khó khăn và phức tạp của hai nước sau cuộc khủng hoảng là xây dựng lại phương thức phát triển kinh tế trên toàn cầu. Trong quá trình “cùng nhau tạo dựng”, hai nước Mỹ và Trung Quốc với tư cách là nền kinh tế lớn thứ nhất và thứ hai trên thế giới cũng như là nước phát triển và đang phát triển lớn nhất trên toàn cầu tuy cạnh tranh và hợp tác cùng song song tồn tại, nhưng bản chất của nó là cùng có lợi, cùng thắng lợi, và về cơ bản sẽ thúc đẩy mối quan hệ song phương từ ổn định tiêu cực sang xu thế ổn định tích cực.
III
Để đối phó với “tình hình có những thay đổi lớn” dẫn đến xu thế mới cho quan hệ Trung-Mỹ, Trung Quốc tối thiểu cần phải đẩy mạnh 4 khả năng và 4 nhận thức sau:
Một là đẩy mạnh khả năng kiềm chế chiến lược và ý thức tiết kiệm. Trung Quốc cần phải phân tích một cách khách quan đối với những thay đổi mang tính kết cấu của mối quan hệ Trung-Mỹ, đánh giá đầy đủ hơn đối với tính phức tạp của việc chuyển dịch quyền lực và tính lâu dài của việc chuyển đổi mô hình hệ thống quốc tế. Ngoài ra, Trung Quốc cần phải tiếp tục kiên trì con đường chiến lược phát triển hòa bình và phương châm ngoại giao giấu mình chờ thời, khiêm tốn thận trọng, tránh xảy ra sai lầm trong chiến lược đối với Mỹ v.v… Nói cách khác, Trung Quốc vừa cần phải cảnh giác đối với tính hai mặt và sức phá hoại của Mỹ, vừa cần phải đề phòng Mỹ, đưa ra những phán đoán đối với ý đồ của nước này.
Hai là nhấn mạnh ý thức tự tin và khả năng chú trọng chiến lược. Trong bối cảnh “tình hình có những thay đổi lớn”, Trung Quốc có lý do tự tin hơn đối với con đường phát triển lâu dài của mình. Thế giới bên ngoài kỳ vọng và đòi hỏi ngày càng cao đối với Trung Quốc, Trung Quốc cần phải tìm hiểu một cách thấu đáo hơn đối với cơ chế trao đổi qua lại trong và ngoài nước, nhận thức đầy đủ vị thế quốc tế và tình hình cơ bản, mâu thuẫn chủ yếu của nước mình đang thay đổi; muốn thực hiện phục hưng dân tộc, Trung Quốc vẫn cần phải coi việc nâng cao khả năng quản lý trong nước và trình độ quản lý là nhiệm vụ cơ bản.
Ba là nhấn mạnh ý thức rủi ro và khả năng lấy nhu trị cương. Một mặt cần phải đề phòng những rủi ro do tinh thần không kiên định. Với bối cảnh “tình hình có những thay đổi lớn”, sự can dự của Mỹ vào tiến trình chuyển đổi mô hình và tạo dựng môi trường của Trung Quốc khẳng định là chỉ tăng chứ không giảm. Sự can dự của Mỹ sẽ khiến cho việc tự mình tạo dựng của Trung Quốc càng khó khăn và phức tạp. Trung Quốc cần chuẩn bị đầy đủ tâm lý để đối phó với tính phức tạp, gay gắt và tiềm ẩn của cuộc đọ sức giữa hai nước Trung-Mỹ. Mặt khác, Trung Quốc cũng cần phải đề phòng những rủi ro do phản ứng quá khích. Trung Quốc cần nhận thức đầy đủ được rằng sự tạo dựng cho nhau và sự trao đổi qua lại giữa hai nước là xu thế lớn dưới điều kiện toàn cầu hóa, là con đường tất yếu khiến cho bản thân hòa nhập vào cộng đồng quốc tế và phát huy ảnh hưởng quốc tế.
Bốn là nhấn mạnh ý thức cơ hội và khả năng chủ động trong hành vi. “Tình hình có những thay đổi lớn” cũng đem lại cơ hội chiến lược chưa từng có cho Trung Quốc trong việc chủ động tạo dựng môi trường bên ngoài và mối quan hệ Trung-Mỹ. Tính không xác định của việc chuyển đổi mô hình hệ thống quốc tế cũng như những kỳ vọng của Mỹ vào việc Trung Quốc phát huy vai trò lớn hơn là tin vui, có lợi cho Trung Quốc. Nếu như nói thời cơ chiến lược 20 năm qua là Trung Quốc ngồi hưởng môi trường bên ngoài ổn định, vậy thì thời cơ chiến lược mới là Trung Quốc chủ động tạo dựng môi trường bên ngoài và quan hệ đối ngoại. Đồng thời, Trung Quốc cũng cần nhận thức đầy đủ khả năng sáng tạo của Mỹ trong chiến lược đối với Trung Quốc, cố gắng tìm kiếm những điểm mạnh có thể xây dựng nghị trình và nhận thức của Mỹ về chiến lược đối với Trung Quốc, mở rộng lĩnh vực hợp tác khiến cho Trung Quốc và Mỹ hợp sức tạo dựng trật tự khu vực và hệ thống quốc tế, xây dựng “mối quan hệ nước lớn kiểu mới thế kỷ 21”. Điều này đòi hỏi Trung Quốc có những lý giải đầy đủ hơn và vận dụng thời cơ chiến lược do “tình hình có những thay đổi lớn” đem lại để tích cực có những hành động cụ thể.
Theo NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG / Tạp chí “Quan hệ quốc tế hiện đại” - Trung Quốc