Thứ Tư, 9 tháng 4, 2014

CHIẾN TRANH GIỮA NHỮNG NGƯỜI ANH EM ĐỎ - CHÂN LÝ THUỘC VỀ AI?

CHIẾN TRANH GIỮA NHỮNG NGƯỜI ANH EM ĐỎ - CHÂN LÝ THUỘC VỀ AI? 

Grant Evans & Kelvin Rowley
Đông Dương: Liên bang hay liên minh?
Trong những tháng đầu của năm 1979 người Việt Nam đã thành công cả trong việc đánh đổ chế độ Pôn Pốt ở Cam-pu-chia lẫn việc đẩy lùi phản ứng quân sự của Trung Quốc.Cuộc khủng hoảng trước mắt đã được giải quyết có lợi cho họ,nhưng bây giờ họ đứng trước một cuộc đấu tranh lâu dài để củng cố những thắng lợi đã giành được của họ.Chính phủ Hà Nội gặp nhiều khó khăn với nền kinh tế bị sa sút và phải đứng trước một mối đe doạ nền an ninh của mình từ Trung Quốc .Hà Nội phải giảm bớt các kế hoạch phát triển kinh tế và nhân dân lại phải sẵn sàng chiến đấu quân sự một lần nữa.Hà Nội phải tìm những đồng minh đáng tin cậy để ủng hộ thái độ không khuất phục của mình đối với sức mạnh Trung Quốc.Hà Nội phải thành lập một chính phủ ổn định và hữu nghị từ những đổ nát của Cam-pu-chia sau Pôn Pốt

Việt Nam trong sự bao vây

Khó có gì có thể rõ rệt hơn sự khác nhau giữa những hi vọng năm 1976 của Đảng cộng sản Việt Nam và những thực tế kinh tế của năm 1979.Tốc độ tăng trưởng không những không lên ,mà còn tụt xuống từ 9 phần trăm năm 1976 xuống con số không vào cuối thập kỉ.Công nghiệp có mở rộng ,nhưng chỉ mới được một phần ba tốc độ dự kiến.Trên hết,sản xuất gạo nằm ở mức 10 triệu tấn ,trong khi số dân tiếp tục tăng 2,6 phần trăm năm.Sự tăng xuất khẩu (chủ yếu là nông phẩm )mà các nhà vạch kế hoạch dự tính đã không thực hiện được,trong khi nợ nước ngoài tăng nhanh chóng.Vào cuối năm 1981,nợ nước ngoài ước tính trên 3,5 tỷ đô la trong đó hơn một nửa là nợ của Liên Xô và các nước Đông Âu ,với Pháp và Nhật Bản là những chủ nợ chính không cộng sản.Tin tức báo chí trước đây còn đưa ra con số cao hơn nhiều ,nhưng ngay dù cho đã lấy con số đã đã điều chỉnh lại cũng có nghĩa việc xử lý món nợ đó chiếm đã chiếm hết một nửa thu nhập về xuất khẩu của Việt Nam .Sự không có khả năng nhập khẩu dẫn đến việc thiếu nguyên liệu và hàng tiêu dùng.Nói một cáchs đơn giản ,Việt Nam tự thấy không đủ khả năng tự túc và ngay mức sống đã bị giảm của năm 1979-1981 cũng còn phải phụ thuộc vào viện trợ bên ngoài.

Chiến lược kinh tế sáu chiến tranh của Việt Nam đã bị hoàn toàn đảo lộn vì cuộc xung đột không đoán trước được với chế độ Kơ-me đỏ và Trung Quốc,cũng như vì không khai thông được với phương Tây sau năm 1975 như mong muốn.Những biện pháp mà chế độ Hà Nội dùng để phản ứng lại những cuộc khủng hoảng đó (như đánh vào buôn bán và hợp tác hoá ở miền Nam)càng tăng thêm sự tan rã về kinh tế ,đặc biệt là khu vực nông nghiệp .Rồi năm 1978 ,nền kinh tế lại chuyển trở lại tình trạng chiến tranh ,do đó vào năm 1980 ,47 phần chăm chi tiêu công cộng (khoảng 14 phần trăm tổng sản phẩm thu nhập quốc dân) là hướng voà lĩnh vực quân sự.
Kế hoạch năm1976 đã bị phụ thuộc vào viẹn trợ tài chính bên ngoài và làm cho Việt Nam dễ bị sức ép từ bên ngoài Trung Quốc cắt tất cả viện trợ năm 1978.Nhật Bản và nhiều nước phương Tây cũng làm theo sau khi Việt Nam đánh đổ chế độ Pôn-pốt.Từ đó Oa-sinh-tơn cũng đi vào con đường ngăn cản mọi viện trợ của các tổ chức quốc tế cho Việt Nam.Về công trình phát triển của Liên hợp quốc năm 1981 ,Mĩ đã không thành công ,nhưng các giám đốc mĩ của Ngân hàng thế giới và ngân hàng phát triển Châu Á đã được chỉ thị "tích cực chống lại "việc cho Việt Nam vay cho đến lúc "Việt Nam rút quân đội của họ ra khỏi Cam-pu-chia và Lào".Người Mi viện lý lẽ rằng viện trợ cho Việt Nam là trợ cấp cho Việt Nam là trợ cấp cho sự bành trướng quân sự của họ.Pháp đồng ý nối lại viện trợ cho Hà Nội và cấp một tín dụng 40 triệu đô la tháng 12 năm 1981 ,nhưng ngoài Pháp ra những nước việc trợ phương Tây và quốc tế chính đã đi theo đường lối của Mĩ.

Việt Nam phản ứng bằng cách xem xét lại chiến lược kinh tế cơ bản của mình tại cuộc họp toàn thể ban chấp hành lần thứ 6 tháng 8 năm 1079 ,nhấn mạnh vào các lực lượng thị trường.Chính sách của chính phủ nhằm vào việc giảm các hàng rào ngăn cản việc lưu thông hàng hoá của tư nhân và khuyến khích sản xuất tư nhân cho thị trường cũng như quản lý có hiệu quả hơn các cơ sở quốc doanh.

Những chính sách mới đã được được toàn bộ những mục tiêu đề ra với sự góp phần của những điều kiện khí hậu thuận lợi. Ở các đô thị hàng nghìn xưởng nhỏ xuất hiện và người ta bắt đầu nói đến “bùng nổ” kinh tế. Các xí nghiệp quốc doanh cũng tăng sản xuất mạnh, tuy vẫn còn thiếu nguyên liệu. Nhưng quan trọng hơn là sản xuất nông nghiệp tăng nhanh. Sản xuất năm 1981 đã lên đến kỷ lục 15 triệu tấn. Tháng 12 năm 1983, Võ Văn Kiệt, Chủ nhiệm Uỷ ban kế hoạch Nhà nước báo cáo rằng chỉ tiêu 17 triệu tấn đã “ít nhiều đạt được” tuy phải chịu những thời tiết khắc nghiệt (kể cả ba trận bão). Xuất khẩu đã tăng, làm giảm bớt sự mất cân đối bên ngoài. Mức sống đã được cải thiện so với mức 1979-1980.

Kế hoạch năm năm lần thứ ba bắt đầu thực hiện trong năm 1981. Theo báo cáo của chủ tịch Phạm Văn Đồng tại Quốc hội thì ưu tiên đầu tiên là “ổn định và cuối cùng cải thiện” đời sống của nhân dân. Kế hoạch nhấn mạnh việc thúc đẩy việc sản xuất nông nghiệp và công nghiệp hàng tiêu dùng, và mở rộng xuất khẩu để giảm bớt mất cân đối trong cán cân thương mại. Công nghiệp hoá và “củng cố các quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trong cả nước” vẫn là những mục tiêu cuối cùng, nhưng được đặt ở mức thứ yếu và những nhu cầu về quân sự đứng cuối cùng.

Không nghi ngờ gì Mỹ và Trung Quốc có thể cùng nhau làm tổn thương Việt Nam thông qua sức ép liên tục về kinh tế. Một phần vì lúc đầu, niềm vui mừng về chiến thắng đã đưa ra một chiến lược kinh tế quá lạc quan và dựa vào việc khai thông được với phương Tây. Nhưng từ năm 1979 Hà Nội đã có một cách đề cập khiêm tốn và thực tế hơn cho nên vào khoảng năm 1983, rõ ràng là những mưu đồ Trung-Mỹ làm chảy máu Việt Nam để đi đến khuất phục đã thất bại. Thật là xa vời triển vọng rằng Việt Nam vì những lý do kinh tế mà chịu bán rẻ các lợi ích chiến lược sống còn của họ.

Kết quả trực tiếp của sức ép kinh tế đối với Việt Nam là đẩy Việt Nam kiên quyết hơn vào phe Xô viết. Liên Xô đã trở thành bạn buôn bán chính của Việt Nam. Giữa năm 1981 chủ nhiệm Uỷ ban kế hoạch nhà nước Việt Nam nói rằng hơn hai phần ba nhập nhiên liệu, nguyên liệu, lương thực, hàng hoá tiêu dùng và máy móc là từ Liên Xô và các nước COMECON khác nhất là Đông Đức. Năm 1980, Matxcơva viện trợ cho Hà Nội 1.428 triệu đôla Mỹ. Khác với kế hoạch năm 1976, kế hoạch năm năm lần thứ ba bao gồm một số hiệp định dài hạn với Liên Xô. Liên Xô đã đồng ý viện trợ ba hệ thống phát điện và 40 công trình công nghiệp. Việt Nam chấp nhận tăng thêm xuất khẩu nông phẩm hàng dệt sang vùng châu Á của Liên Xô. Năm 1982 đã ký những hiệp định Xô-Việt về khai thác dầu và hơi đốt ở biển Đông và về hợp tác khoa học và kỹ thuật.

Hà Nội đã để cho Liên Xô ra vào cảng nước sâu do Mỹ xây dựng ở Cam Ranh. Nằm giữa đường từ Vlapostok đến Ấn Độ Dương. Cam Ranh có một giá trị chiến lược lớn đối với lực lượng hải quân Xô-viết ở Viễn Đông. Từ năm 1975, Liên Xô đã muốn được phép vào Cam Ranh, nhưng Việt Nam từ chối vì ngại gây thù địch với Trung Quốc. Nhưng đến tháng 4 năm 1979, một vài tuần sau khi Trung Quốc xâm lược Việt Nam, chuyến thăm đầu tiên của tàu Liên Xô vào Cam Ranh đã được đưa tin. Đến năm 1983 thì các cuộc đi thăm như vậy trở nên thường xuyên. Trước năm 1979 Hà Nội nói sẽ không cho phép các căn cứ quân sự nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam, nhưng sau cuộc xâm lược của Trung Quốc, Hà Nội theo một lập trường có thể cho phép việc đó trong tương lai nếu đe doạ quân sự của Trung Quốc cứ tiếp tục.

Có một số tin nói về những căng thẳng giữa Hà Nội và Matxcơva, nhưng chúng tôi cho rằng những câu chuyện về đối kháng nghiêm trọng Xô-Việt là không có cơ sở vững chắc.

Suy xét bao trùm là các lợi ích chiến lược của Việt Nam và Liên Xô phù hợp với nhau một cách rộng rãi. Liên minh giữa 2 nước ít có khả năng bị phá vỡ vì những vấn đề có tầm quan trọng thứ yếu. Dù có thể có một số phàn nàn riêng về tính chất của viện trợ đó có tầm quan trọng sống còn nếu đất nước của họ còn tiếp tục coi thường những yêu sách của Trung Quốc. Mặt khác, đúng là cuộc xâm lăng Campuchia của Việt Nam đã gây thêm cho Liên Xô nhiều vấn đề trong khi giao thiệp với các nước ASEAN, nhưng Việt Nam là một thắng lợi lớn của nền ngoại giao Xô-viết ở châu Á. Đặc biệt là do tầm quan trọng của vịnh Cam Ranh cho Hạm đội Thái Bình Dương của Liên Xô, chắc chắn người Xô-viết sẽ không vì những lợi ích chỉ có tính chất giả định với các nước ASEAN mà làm tổn thương đến Cam Ranh được. Và cừng nào người Xô-viết còn bất hoà với người Trung Quốc, thì họ không thể bỏ Việt Nam cho tham vọng của Trung Quốc địch thủ. Do đó, dù có một vài cọ sát thường tình, rõ ràng là Việt Nam sẽ ở lại trong phe Xô-viết trong tương lai trước mắt.

Khi bị buộc phải chọn giữa Matxcơva và Bắc Kinh, Hà Nội có đủ lý lẽ vững chắc để chọn Matxcơva, Liên Xô mạnh hơn Trung Quốc vừa về kinh tế, vừa về chính trị và có thể cung cấp viện trợ kinh tế và quân sự có giá trị hơn. Thêm vào đó, vị trí địa lý cách xa nhau đưa lại cho Hà Nội một sự độc lập lớn hơn. Tuy nhiên do những kinh nghiệm gần đây, từ tháng giêng năm 1979 đến nay Hà Nội đã tập trung phần lớn năng lực để củng cố vị trí của mình ở Đông Dương, trước hết ở Campuchia sau thời kỳ Pol Pot.

Campuchia-nhặt những mảnh vụn lại với nhau

Trong cuộc đi xuyên qua Campuchia sau khi đánh đổ chế độ Pol Pot, quân đội Việt Nam tìm được chứng cớ đầy đủ của những điều dã man khủng khiếp đã xảy ra. Một nhà báo Ba Lan thăm Prây Veng tháng 2 năm 1979 đã đưa ra một bài tường thuật mắt thấy tai nghe về sự phát hiện hàng nghìn tử thi thối rữa mà bọn Khmer đỏ để lại khi bỏ chạy. Những người sống sót của cuộc tàn sát nói với anh ta rằng 22.000 người đã bị giết trong chợ của thị trấn và xác của họ bị cứt trong các cống rãnh, cuộc tàn sát chỉ chấm dứt khi quân đội Việt Nam tràn sang. Sau đó anh ta hỏi một nhà báo ở Bangkok “Bạn đã có nghe nói về những thân thể ở nước không? Điều mà chúng tôi thấy là những di hài tử thi da tan thành nước với hàng triệu ròi bọ”. Sau đó các nhà báo phương Tây được phép vào và họ đã xác nhận cảnh tượng đó. Nước Campuchia mà Pol Pot để lại đã được một phóng viên của hãng AP Harish Charandola mô tả hồi tháng 3 như một “xứ sở của đầu lâu, máu đông và mùi tanh thối”. Khi đến Pray Veng, Charandola thấy rằng mùi tanh thối “không thể chịu được”. Đó không phải chỉ vì các cống rãnh của thành phố bị tắc do các xác chết bị thối rữa, mà trong vùng nông thôn quanh đó, “những mộ chôn cạn không được đánh dấu nằm ở khắp nơi. Xương nằm ngay dưới mặt đất”. Trong vài tháng tiếp theo, những tin tức như vậy trở thành rất thông thường, và vào năm 1981 việc phát hiện các ngôi mộ tập trung ở Campuchia không còn là điều đáng chú ý đối với báo chí phương Tây nữa. Việc khai quật 60.000 xác chết tháng 9 năm 1981 chẳng hạn, chỉ nêu được vẻn vẹn một câu trên báo, những tàn bạo của Pol Pot đã trở thành những đầu đề đã qua rồi của báo chí.

Nhưng không thể hiểu được các phát triển chính trị bên trong Campuchia dưới sự chiếm đóng của Việt Nam nếu không biết được di sản của Pol Pot. Không phải chỉ có việc Pol Pot và nhóm của ông ta bị ghê tởm hầu như khắp nơi, tuy đó là sự thật. Người ta có thể đi bất kỳ ở đâu trong những năm 1980-1981, dù cho ở các trại tị nạn hoặc chính bên trong Campuchia, hầu như tất cả người Khmer đều nói đến việc hoan nghênh cuộc xâm chiếm của Việt Nam như là một cuộc giải phóng khỏi chế độ chuyên chế của Pol Pot, dù cho họ có lo sợ như thế nào về ý định cuối cùng của người Việt Nam. Một công nhân ở Phnôm Pênh nhận xét với chúng tôi năm 1981 rằng: “Đúng là người Việt Nam đã không được mời vào đây, nhưng nếu có một dây điện thoại nối với Hà Nội thì nó sẽ bị tắc nghẽn vì có quá nhiều người gọi điện để mời”. Sự lo sợ rằng Pol Pot sẽ trở lại nắm quyền và những cuộc giết hại tập trung sẽ được nối lại, vẫn còn là mối lo ngại bao trùm của nhân dân; việc phần lớn thế giới còn thừa nhận Pol Pot là người thống trị hợp pháp của đất nước và sự bất bình khi Việt Nam lật đổ ông ta đã làm cho nhân dân Campuchia ngờ vực và sợ hãi. Mối lo sợ rằng với sự ủng hộ của nước ngoài, Pol Pot có thể trở lại nắm quyền đã tự thúc đẩy sự ủng hộ việc người Việt Nam có mặt ở Campuchia, bất chấp những lo sợ trước đây của nhân dân Khmer đỏ đối với người Việt Nam láng giềng như thế nào.

Nhiều lập luận trước kia về “kẻ thù truyền kiếp” đã bị các sự kiện hiện nay làm cho mất hiệu quả. Chính không phải người Việt Nam mà là những “nhà yêu nước” Khmer hăng hái nhất đã khủng bố dân tộc Campuchia, đặt tôn giáo và nền văn hoá truyền thống ra ngoài vòng pháp luật và sát hại công dân Campuchia. Những người Campuchia khác, dù thuộc cánh tả, trung gian hay cánh hữu, đều không đủ khả năng ngăn chặn sự tàn phá đó, và chỉ sự can thiệp của người Việt Nam mới rõ ràng đã kết thúc được sự tự hy sinh dân tộc đó. Đối với một số người Khmer, tất cả các nhóm truyền thống của nền chính trị Campuchia đã không còn tin nhau nữa, và đất nước phải bắt đầu lại từ đầu. Trong tinh thần như vậy, họ sẵn sàng đi với những nhà cầm quyền mới được Việt Nam ủng hộ. Tâm trạng bao trùm là một tâm trạng của sự mất tinh thần và ngờ vực sau chấn thương do chế độ Pol Pot để lại chứ không phải một tâm trạng bất bình đối với cuộc xâm lăng của Việt Nam.

Sự có mặt quân sự của Việt Nam chắc chắn đã làm cho Việt Nam trở thành lực lượng khống chế ở Campuchia mới. Vào năm 1980, số quân Việt Nam ở Campuchia đã lên đến 200.000 nhưng khi đi khắp vùng nông thôn, người ta rất ngạc nhiên là ít thấy họ. Là chuyện rất bình thường khi thấy những binh sĩ đi lẻ tẻ hoặc đi thành nhóm nhỏ, không có vũ khí, ngồi bên vệ đường nói chuyện với nông dân Khmer hoặc mua bán ở chợ giống như những người khác. Không có ai chú ý gì đặc biệt đối với họ. Binh sĩ Việt Nam tự xây dựng lấy doanh trại, trồng rau cho mình, tập trung vào nhiệm vụ canh gác của mình, càng can thiệp ít vào các hoạt động của nhân dân Khmer càng tốt. Về cơ bản, họ sống cùng mức sống với người Khmer và tỏ ra hoà vào cảnh vật địa phương một cách rất tự nhiên. Họ nhận khẩu phần hằng ngay hai bát gạo và một ít thịt hộp và một khoảng tiền bằng 20 xu Mỹ làm tiền tiêu vặt.

Chắc chắn là Campuchia không có vẻ gì là một nước bị chiếm đóng quân sự, và những binh sĩ mà chúng tôi nói chuyện chẳng cho thấy tý gì thái độ hăng hái của người chinh phục, trái lại họ phà nàn phải sống một mình ở một nước ngoài và họ mong muốn được trở về với gia đình và bạn gái ở Việt Nam. Họ được lệnh nghiêm khắc phải cư xử tuyệt đối đúng mực với nhân dân Khmer và các quan hệ yêu đương với người địa phương bị cấm một cách triệt để. Các nhà chức trách Việt Nam biết rõ mối ác cảm truyền thống của người Campuchia đối với Việt Nam nên họ làm hết sức mình để giảm đến mức tối thiểu thành kiến đó. Thái độ tôt của các lực lượng cộng sản Việt Nam ở Campuchia ngày nay trái ngược hoàn toàn với những hành động tàn bạo và cướp bóc của lực lượng Việt Nam Cộng hoà ở Đông Campuchia trong những năm 1970-1971.

Chúng tôi chẳng tìm thấy được ai muốn người Việt Nam về nước trong khi còn khả năng Pol Pot có thể trở lại. Nhưng đồng thời cũng phải thừa nhận còn tình trạng không thoải mái lắm trong một số người về những ý định lâu dài của Việt Nam đối với Campuchia. Điều này thường thấy ở Phnôm Pênh là nơi mà vấn đề an ninh được đảm bảo nhất. Ở các tỉnh nhất là miền Tây mà hoạt động Khmer đỏ còn nhiều nhất. Những mối lo ngại nói trên hiếm thấy lắm. Một năm sau, chúng tôi thấy các thái độ đó đã thay đổi một cách có ý nghĩa ở Phnôm Pênh. Người ta nói với chúng tôi rằng khi người Việt Nam lần đầu tiên mới đến, người Khmer còn lo ngại điều mà người Việt Nam có thể làm, nhưng sau hai năm người Việt Nam giữ một tư thế càng khiêm nhường càng tốt và cư xử tốt đối với những người dân cho nên những lo ngại đó đã giảm bớt. Sự thay đổi thái độ đó sẽ còn mạnh mẽ hơn nữa nếu người Campuchia biết rõ được việc quốc tế còn ủng hộ mạnh bọn Khmer đỏ.

Người Việt Nam tập trung cố gắng của họ vào mục tiêu quân sự nhằm giữ gìn đất nước chống lại các lực lượng Pol Pot. Trách nhiệm xây dựng một bộ máy chính phủ mới ở khu vực họ đã giải phóng thuộc về Mặt trận thống nhất dân tộc cứu quốc của Campuchia. Việc thành lập nước Cộng hoà nhân dân Campuchia đã được tuyên bố ngày 8 tháng giêng năm 1979, một ngày sau khi Phnôm Pênh rơi vào tay Việt Nam. Chính phủ mới đã được xây dựng từng bước, từ trên xuống và từ trung tâm toả ra chung quanh. Như vậy có nghĩa là ở cấp xã, có một thời gian không có chính quyền, từ lúc lật đổ Khmer đỏ đến khi cử được các nhà chức trách thuộc quyền lãnh đạo của chính phủ trung ương. Ở các vùng trung tâm và vùng phía đông, giai đoạn đó chỉ mất vài tuần, nhưng ở phía tây thì nó kéo dài cho đến tháng 5, tháng 6 năm 1979, chính quyền mới mới có khả năng củng cố sự kiểm soát của mình, và sự kiểm soát đó vẫn còn mong manh trong một thời gian sau đó.

Không có gì có thể sử dụng được để xây dựng chế độ mới. Sự khủng bố của Pol Pot đã giết hại hàng ngũ những người có học thức và khéo léo về nghề nghiệp vốn ít ỏi của Campuchia, và nhiều người còn sống sót đã lợi dụng tình hình lộn xộn của cuộc xâm lăng để trốn khỏi đất nước. Và nhiều người khác có lẽ nằm im, đợi xem các nhà chức trách mới như thế nào trước khi xuất hiện trở lại. Nhưng không phải chỉ thiếu những người đủ khả năng, hầu như cái gì cũng thiếu. Ngay đến tháng 2 năm 1980, khi đã có một chính quyền hoạt động rõ ràng rồi, vẫn chưa có một văn phòng làm việc một cách hiện đại. Không dễ gì kiếm được giấy và bút. Không có dây nói, và khó tìm được máy chữ. Chính tức mà nói thì có cơ quan bưu điện, nhưng không ngoài việc nối liền Phnôm Pênh với Sài Gòn. Công văn cho các nhà chức trách ở tỉnh được giao cho các lái xe tải và chở trong các thùng xe. Để đảm bảo cho ai đó nhận được chỉ thị thì cách tốt nhất là trực tiếp đến gặp họ.

Lúc đầu chính quyền Campuchia mới rất phục thuộc vào sự giúp đỡ của Việt Nam. Jean Pierre Galloir một phóng viên của AFP viết tháng 4 năm 1979: “Có ba cố vấn Việt Nam cho một quan chức Campuchia, 10 nhân viên quân sự Việt Nam cho mỗi một binh sĩ Campuchia”. Khi chúng tôi thăm tháng 2 năm 1980, chúng tôi chắc rằng sẽ thấy người Việt Nam vẫn còn gánh phần lớn gánh nặng của chính quyền, nhưng không phải như vậy. Do lòng tha thiết muốn giữ một tư thế càng thấp càng tốt ở Campuchia (và cũng để đáp ứng nhu cầu khẩn cấp của những người lành nghề trong chính nước họ) người Việt Nam trao lại khi thực tế có thể trao được cho người Campuchia những nhiệm vụ hành chính.

Đầu năm 1980, tuy các cố vấn Việt Nam còn đóng một vai trò then chốt trong nhiều bộ ở Phnôm Pênh, nhưng chính quyền đã chủ yếu là một chính quyền Khmer tự điều khiển lấy đất nước. Trong quá trình của năm đó, phần đông các cố vấn Việt Nam còn lại đã rút về nước. Một số được các nhà kỹ thuật Xô-viết thay thế, nhưng chủ yếu các nhà cầm quyền Khmer ngày càng dựa vào khả năng của chính họ.

Khi chính phủ mới đã được củng cố thì Campuchia dần dần chấp nhận những đường nét của một quốc gia cộng sản. Năm 1981, một hiến pháp mới đã được công bố và các cuộc bầu cử đã được tổ chức để bầu một quốc hội thay thế cho Hội đồng cách mạng nhân dân quản lý đất nước trước đây.

Đồng thời, việc thành lập một Đảng Cộng sản Campuchia mới, lấy tên là Đảng nhân dân cách mạng của Campuchia được công bố. Pen Sovan được cử làm tổng bí thư, và phần đông các nhà bình luận lúc đó nhấn mạnh rằng ban lãnh đạo của Đảng nhân dân cách mạng bị những “cựu binh của cuộc chiến tranh" khống chế, nghĩa là những người thân Việt Nam đã sống lưu vong ở Hà Nội trong suốt những năm của Pol Pot, chứ không phải những người cộng sản “trong nước” như Heng Samrin. Tháng 12 năm 1981 Pen Sovan rút lui với lý do chính thức vì sức khoẻ và được Heng Samrin thay thế.

Sau khi được thành lập, Cộng hoà nhân dân Campuchia thiết lập những quan hệ chính thức với chính phủ Hà Nội. Chính phủ Hà Nội đã thừa nhận ngoại giao vp đó ngay ngày hôm sau. Ngày 12 tháng giêng năm 1979 hai bên trao đổi đại sứ. Trong tháng 2, một phái đoàn Việt Nam do ông Phạm Văn Đồng đứng đầu đã thăm Phnôm Pênh và một hiệp ước 25 năm về “hoà bình, hữu nghị và hợp tác” giữa hai nước được ký kết. Họ đồng ý “giúp đỡ lẫn nhau trong tất cả các lĩnh vực trên cơ sở tôn trọng nền độc lập, không can thiệp vào nội bộ công việc của nhau và bình đẳng”. Đối nội thì sự hợp tác dự định đó sẽ bao gồm kinh tế, văn hoá và giáo dục, y tế, khoa học và kỹ thuật, huấn luyện cán bộ và trao đổi các chuyên gia. Về vấn đề biên giới, sẽ có thương lượng “trên cơ sở đường biên giới hiện nay”; vấn đề biên giới trên biển được để lại cho những cuộc hội đàm về sau.

Theo hiệp ước hữu nghị này Việt Nam và Campuchia “giúp đỡ lẫn nhau để củng cố khả năng bảo vệ nền độc lập của mình” chống lại “tất cả các âm mưu và hành động phá hoại của các lực lượng đế quốc phản động quốc tế”. Các điều khoản về chính sách đối ngoại nói lên những nguyên tắc chung về độc lập, hoà bình và trung lập. Các điều khoản đó cũng đề cập đến sự củng cố “tình hữu nghị truyền thống giữa nhân dân Campuchia, Lào và Việt Nam" và quan hệ của họ với các nước xã hội chủ nghĩa. Đối với Thái Lan và các nước Đông Nam Á khác, các điều khoản đó nói một cách mập mờ về các chính sách “hữu nghị và láng giềng tốt” đi đôi với “hợp tác” với các phong trào dân chủ và giải phóng dân tộc.

Cuối cùng hiệp ước nêu cao mục tiêu của Hà Nội về “mọt mối quan hệ đặc biệt” giữa Việt Nam và Campuchia, song song với mối quan hệ giữa Việt Nam và Lào. Nó đưa ra những điều khoản hợp tác mở rộng giữa Hà Nội và Phnôm Pênh trong các vấn đề kinh tế, văn hoá, chính trị và quân sự, và làm cho Việt Nam có thể giúp đỡ một cách hợp pháp việc xây dựng một chính phủ có hiệu quả và việc phục hồi nền kinh tế Campuchia.

Những điều khoản quân sự của hiệp ước Việt Nam-Campuchia đưa lai những cơ sở pháp lý cho sự có mặt của quân đội Việt Nam ở Campuchia. Lúc đầu Hà Nội không thừa nhận sự có mặt của quân đội của họ ở Campuchia, kiên quyết cho rằng việc lật đổ Pol Pot là kết quả cuộc nổi dậy của nhân dân Campuchia. Nhưng sau tháng 2, có thể nói rằng quân đội Việt Nam đã vào chỉ theo lời mời của chính phủ Campuchia nên không thành một sự can thiệp vào công việc nội bộ của Campuchia. Hà Nội công bố rằng theo hiệp ước hữu nghị, Việt Nam đã “đồng ý đưa lực lượng vũ trang vào giúp đỡ nhân dân Campuchia bảo vệ đất nước của họ” và sự có mặt của quân đội Việt Nam là “một vấn đề riêng giữa hai nước”.

Cộng hoà nhân dân Campuchia đã được các nước có quan hệ hữu nghị với Hà Nội và Matxơva thừa nhận, nhưng ngoài ra thì còn bị cô lập về phương diện quốc tế.

Cả Trung Quốc lẫn Bắc Triều Tiên đã mạnh mẽ ủng hộ Pol Pot trong cuộc chiến tranh với Việt Nam và gay gắt lên án cuộc xâm chiếm của Việt Nam. Các nước ASEAN ra một tuyên bố chung ngày 13-1-1979 phàn nàn sự “can thiệp vũ trang” ở Campuchia và phần đông các nước châu Á đi theo lập trường này trừ Miến Điện duy trì một thái độ trung lập và Ấn Độ thì thừa nhận Cộng hoà nhân dân Campuchia tháng 7 năm 1980. Phương Tây cũng vội vã chạy theo hợp xướng lên án những hành động của Việt Nam đó.

Về mặt kinh tế, các nhà chức trách Việt Nam và Campuchia phải đương đầu với những vấn đề có quy mô to lớn ở Campuchia trong năm 1979. Một số người chống đối Việt Nam đổ tội cho cuộc xâm lăng về cuộc khủng hoảng kinh tế đó. Tất nhiên sự sụp đổ của Khmer đỏ có góp phần vào cuộc khủng hoảng nhưng về căn bản, nguồn gốc của nó phải trở lại xa hơn nữa về trước. Campuchia đã là một đất nước tan nát khi quân Việt Nam tràn vào.

Trước tiên, cuộc chiến tranh 1970-1975 đã gây ra những tàn phá khủng khiếp. Với một số dân 7 triệu người, khoảng 600.000 đã bị giết và một triệu bị thương. Hơn một nửa số dân đã trở thành tị nạn trong năm 1975, và sản xuất gạo tụt xuống còn một phần tư mức trước chiến tranh. Rồi, khi Khmer đỏ lên nắm chính quyền, chúng lùa hàng tiệu người về nông thôn đã bị tàn phá để tự túc. Đại sứ Thuỵ Điển ở Bắc Kinh vào thăm Campuchia năm 1976 và 1978 nhận xét rằng Campuchia là “một nước dưới sự kiểm soát quân sự chặt chẽ” với toàn dân làm việc như “trong thời kỳ chiến tranh". Với cách làm việc đó, Khmer đỏ đã đưa sản xuất lương thực năm 1977-1978 lên hai phần ba mức trước chiến tranh, nhưng với một cái giá khủng khiếp.

Sau cuộc xâm chiếm của Việt Nam, những mối ràng buộc dã man của Khmer đỏ đã bị phá huỷ. Hàng triệu người trở về quê cũ hoặc tìm kiếm những người trong gia đình bị Pol Pot chia rẽ. Không ai còn lo nghĩ đến làm ăn, tình hình kinh tế trở nên rất bi đát.

Tháng 2 năm 1979, các nhà cầm quyền Cộng hoà nhân dân Campuchia báo rằng “số gạo dự trữ cho nhân dân còn không đáng kể”. Tháng 7 thì báo rằng nạn đói sắp xảy ra và kêu gọi viện trợ quốc tế khẩn cấp. Các quan chức Mỹ cho tuyên bố đó là “gây hoang mang sợ hãi”, nhưng khi các quan chức Liên hợp quốc và Chữ thập đỏ vào điều tra thì họ rất kinh hãi trước điều họ chứng kiến. Họ thấy rằng những cố gắng của Pol Pot “kéo ngược kim đồng hồ” đã biến một đất nước từng là màu mỡ thành một “sa mạc” và cảnh cáo rằng 2 triệu rưỡi người có thể chết đói trong vài tháng tới, nếu không nhanh chóng có biện pháp ngăn ngừa. Tháng 9 thì một nhà báo Anh John Pilger vào Campuchia đã viết: “Trong 20 năm là một nhà báo mà phần lớn tham gia các cuộc chiến tranh và các nơi có những cuộc nổi dậy, tôi chưa hề thấy cái gì có thể so sánh với cái tôi đã thấy ở Campuchia”. Tình hình này cho thấy rằng viện trợ quốc tế là một vấn đề có tính chất sống còn.

Mặt chính trị của viện trợ

Chỉ có Việt Nam và khối Xô-viết đáp ứng ngay những lời kêu gọi của chính phủ Cộng hoà nhân dân Campuchia về tình hình lương thực ở Campuchia. Vào ngày 1 tháng 11 năm 1979, Liên Xô đã gửi 159.000 tấn lương thực cho Campuchia. Mặc dù có những vấn đề kinh tế nghiêm trọng của chính mình, Việt Nam đã gửi 120.000 tấn khác và các nước còn lại của khối Xô-viết gửi 2.000 tấn. Vào tháng 12, khoảng 1.500 tấn lương thực từ các nước khối Xô-viết đã được dỡ hàng ngay ở cảng Côngpông Xom; thêm vào đó, thuốc men đã được chở đến bằng đường không, và những nhà kỹ thuật khối Xô-viết đã được đưa đến để giúp khôi phục lại hệ thống vận tải đã bị phá huỷ. Viện trợ của khối Xô-viết đã đóng một vai trò chủ chốt trong việc mở các bến cảng ở Côngpông Xom và trên sông Mê Công tại Phnôm Pênh, và trong việc phục hồi đường bộ và đường xe lửa giữa Phnôm Pênh và Bat-tam-bang ở phía tây.

Chính phủ Mỹ từ ban đầu đã chống lại bất cứ cố gắng viện trợ nào cho Campuchia. Ngay sau khi chế độ Pol Pot bị đánh đổ, Mỹ đã phát động một chiến dịch thuyết phục các nước phương Tây “trừng phạt” Việt Nam bằng việc cắt viện trợ. Trong tình hình như vậy, một chương trình viện trợ lớn cho Campuchia có nghĩa là phá vỡ sự bao vây. Do đó các quan chức Washington từ chối gửi viện trợ cho Phnôm Pênh và tìm cách làm cho những tin từ Thái Lan về tình trạng thiếu lương thực ở Campuchia không còn được ai tin nữa.

Nhưng khi tình hình nghiêm trọng đã trở nên rõ ràng rồi thì cố gắng viện trợ cho phối hợp cũng tăng lên, không có sự tham gia của Mỹ nếu cần. Điều này đặt ra một thế khó xử cho Washington: Nếu tìm cách ngăn cản viện trợ cho một nước bị đói thì sẽ tổn thương đến hình ảnh nhân đạo của Mỹ, nhưng nếu đồng ý viện trợ cho Campuchia thì làm thế nào có thể ngăn cản được việc củng cố và hợp pháp hoá chính phủ Cộng hoà nhân dân Campuchia? Về mặt chính trị mà nói thì Mỹ không còn kiểm soát Liên hợp quốc và các cơ quan viện trợ quốc tế, nhưng Mỹ còn là nước đóng góp nhiều nhất cho các cơ quan đó, nên chính phủ Mỹ vẫn còn một số lớn thế lực.

Tháng 6 năm 1979, Washington đồng ý viện trợ cho Campuchia, nhưng đề nghị chỉ viện trợ cho các hoạt động tại biên giới Thái. Mặc dù nhiều viện trợ qua biên giới cuối cùng chỉ đến tay Khmer đỏ mà thôi, nhưng Mỹ nhắc lại đạo luật trước đây cấm viện trợ cho Campuchia vì bất bình với chế độ Pol Pot để làm cớ không viện trợ cho chính phủ Heng Samrin.

Ngày 2 tháng 7 năm 1979 ngoại trưởng Xây-rớt Van-xơ kêu gọi viện trợ chống đói trực tiếp cho Campuchia, lần đầu tiên một quan chức cấp cao Mỹ nói công khai như vậy. Sự thay đổi lập trường này của Mỹ đã mở đường cho viện trợ phương Tây cho Campuchia, nhưng tổng thống Cater đã để ba tháng trôi qua trước khi công bố Mỹ có bất cứ đóng góp nào cho cố gắng đó. Viện trợ của OXFAM, một cơ quan Anh không phụ thuộc vào chính phủ Mỹ, đã bắt đầu trong tháng 8. Nhưng trước khi có cam kết của Mỹ trong tháng 10, viện trợ của phương Tây cho Phnôm Pênh không đáng kể so với viện trợ của khối Xô-viết. Đến ngày 12 tháng 10, khi OXFAM gửi đến 1.500 tấn lương thực, thì tất cả viện trợ của phương Tây mới có 200 tấn.
Lý do căn bản của tình hình này là việc Hội chữ thập đỏ và UNICEF, những cơ quan viện trợ quốc tế chính đã bị mắc kẹt trong các đường lối trái ngược nhau của Mỹ và Phnôm Pênh. Trong khi Washington không chịu cung cấp quỹ và đòi viện trợ cho cả hai bên, thì chính phủ Heng Samrin gay gắt chống lại viện trợ nhân đạo cấp cho các lực lượng Pol Pot và đòi rằng tất cả viện trợ phải được gửi đến Phnôm Pênh.

Nhưng đến 26 tháng 9, Phnôm Pênh cho phép Hội chữ thập đỏ và UNICEF thực hiện những hoạt động cứu trợ quy mô lớn ở Campuchia, ngay dù cho họ vẫn còn gửi viện trợ cho các vùng biên giới Thái. Phnôm Pênh không nhấn mạnh chấm dứt viện trợ ở biên giới, nhưng vẫn xem viện trợ cho Pol Pot là kéo dài sự chống đối lại nhân dân Campuchia, là can thiệp vào công việc nội bộ của Campuchia, là bất hợp pháp và vi phạm chủ quyền của Campuchia. Ngày 24 tháng 10 năm 1979, đúng 5 ngày sau khi thủ tướng Gri-ăng-xắc tuyên bố chính sách “cửa mở” đối với những người tị nạn từ Campuchia, tổng thống Cater công bố một chương trình viện trợ 69 triệu đôla cho Campuchia để ngăn chặn “một thảm kịch có tỷ lệ hầu như là diệt chủng”. Cater cũng kêu gọi các nước khác cung cấp viện trợ và kêu gọi cố gắng từ thiện tư nhân. Tại một cuộc hội nghị tại trụ sở Liên hợp quốc ở New York ngày 5 tháng 11, một tổng số số 20 trệu đôla viện trợ đã được hứa hẹn. Đó là tiền cứu trợ nạn đói bên trong Campuchia cũng như trong các trại tị nạn ở Thái Lan và trên biên giới Thái.

Từ đó, viện trợ phương Tây bắt đầu được đưa vào Campuchia ngày càng nhiều và đầu tháng 12 thì đạt con số 1.000 tấn ngày. Do hệ thống giao thông bị phá hoại nghiêm trọng, nên Campuchia không thể phân phát hết số viện trợ gửi đến. Đầu tháng 12 một phát ngôn của UNICEF nói rằng lương thực đã được phân phát tốt ở Phnôm Pênh, nhưng chỉ 10 phần trăm đến được nhân dân nông thôn. Vì các kho ở cảng Côn-pông Xom quá đầy nên viện trợ của phương Tây từ 30.000 tấn một tháng giảm xuống còn 13.00 tấn vào cuối tháng 12.

Ngay trước khi đó, người Mỹ đã luôn luôn tiến công chính phủ Cộng hoà nhân dân Campuchia về vấn đề phân phối viện trợ. Mặc dù có những tuyên bố ngược lại của Hội chữ thập đỏ và UNICEF, người Mỹ vẫn không ngừng lặp đi lặp lại rằng Cộng hoà nhân dân Campuchia cố tình ngăn cản cố gắng viện trợ. Họ rêu rao rằng người Việt Nam không cho nhân dân lương thực để buộc họ phải khuất phục. CIA còn đưa ra báo cáo rằng viện trợ rất cần thiết cho nhân dân đã bị chuyển cho các lực lượng quân sự của Việt Nam và Cộn hoà nhân dân Campuchia, rằng người Việt Nam đốt mùa màng và đặt mìn ở đồng ruộng để khuất phục nhiệm vụ Campuchia và dùng cả chiến tranh hoá học chống nhân dân cũng như chống các lực lượng Pol Pot.

Vì báo cáo của CIA là “mật” nên bằng chứng cho tất cả những lời buộc tội đó không bao giờ được tiết lộ. Việc các quan chức viện trợ và các nhà báo ở Campuchia phủ nhận các tin đó đã bị phương Tây lờ đi. Jim Laurie người phụ trách hãng ABC tại Hong Kong, sau sáu tuần ở Campuchia đã viết: “Đã được thừa nhận chung rằng việc phân phối lương thực ở Campuchia là chậm và ít hiệu quả. Nhưng không có nhà quan sát thông thạo nào, quan chức viện trợ hoặc nhà báo nào đã thăm Campuchia trên một tuần lại kết luận rằng sự bế tắc đó là do kết quả của chính sách cố ý của Việt Nam hoặc Campuchia. Ngược lại, họ đều nói rằng những chậm trễ đó là do bộ máy quan liêu phức tạp, do các quan chức thiếu kinh nghiệm và thiếu khả năng, do thiếu phương tiện vận tải và giao thông quá thô sơ” (xem Jim Laurie, Tạp chí Kinh tế Viễn Đông 18-1-1980-ND). Các quan chức viện trợ đến điều tra kết luận rằng một số viện trợ cũng bị ăn cắp vặt, nhưng ở mức dưới một phần trăm, thấp hơn nhiều số bị chuột ăn. Cuối cùng ngay đại sứ Mỹ tại Thái Lan cũng thừa nhận rằng không có bằng chứng là các nhà chức trách Việt Nam hoặc Phnôm Pênh đã ngăn chặn việc phân phối viện trợ.

Sự thật về những luận điểm đó đúng lúc đã được lọt ra ngoài. Tháng giêng năm 1980, John Gittings viết trong The Guardian (người bảo vệ): “Tháng 11 vừa qua, các nguồn tin Bộ Ngoại giao Mỹ tiết lộ ý định dựng lên một cuộc tiến công tuyên truyền về cách cư sử của Việt Nam ở Campuchia. Mấy ngày sau đó, coi như là theo những chỉ thị của Nhà Trắng, các nhà báo Mỹ ở Bangkok và Singapore được tiếp xúc với những “câu chuyện tị nạn” thích hợp và tiến sĩ Brơ-din-xki đích thân thông báo miệng cho một phóng viên nổi tiếng nước ngoài về nội dung của “báo cáo CIA mới nhất”. Sau đó trong năm John Pilger hỏi một nhà ngoại giao liệu anh ta có thấy báo cáo đó của CIA đã từng làm cho Tổng thống Cater quá xúc động như vậy không. Nhà ngoại giao trả lời: “Có nhưng Bộ Ngoại giao bảo chúng tôi phải lờ nó đi vì nó chỉ là để cho báo chí” (xem “Chỉ có đồng minh là mới” của Pilger và Bác-nết, tr.99-ND). Nhưng những luận điệu đó đã gây tác hại của chúng trong giai đoạn nói trên, và câu chuyện hoang đường vẫn dai dẳng tồn tại, câu chuyện rằng Mỹ cố tình tìm cách khoác cho mình chiếc áo cứu tinh của Campuchia nhưng bị những người cộng sản độc ác phá hoại nghĩa vụ nhân đạo đó. Sự thật là số lượng lớn viện trợ cho Campuchia năm 1979 là của khối cộng sản, trong khi Mỹ thì chần chừ. Sự thật đó phần lớn phương Tây không được biết.

Khi chúng tôi thăm Campuchia đầu năm 1980, chúng tôi thấy đất nước đó tốt hơn nhiều so với sự tưởng tượng của chúng tôi. Cung cấp rõ ràng còn thiếu, nhưng có gạo, cá và hoa quả ở các chợ địa phương. Mức ăn còn chưa đủ là điều phổ biến nhưng chúng tôi không thấy có dấu hiệu của chết đói trong các vùng mà chúng tôi thăm. Còn có thể thấy những trẻ bụng to, nhưng không còn những “bộ xương lang thang” đáng tháng đã từng thu hút sự chú ý của báo chí vài tháng trước đây. Nhiều người nói với chúng tôi họ bị đói trong 6 tháng cuối năm 1979 và cũng có một số chết vì đói. Tình hình ở các tỉnh phía Tây xấu hơn nhiều vì ở đó vấn đề an ninh còn kém nhất. Trong một vài tháng gay gắt nhất, một số lớn nhân dân đã sống sót chủ yếu nhờ trồng rau và như vậy là sự giàu có thiên nhiên của đất nước đã nuôi sống họ chứ không phải là viện trợ quốc tế. Sức ép về lương thực cũng được giảm khi gần một triệu người ở các vùng khó khăn nhất chạy sang biên giới Thái Lan.

Tuy những điều kiện đó là kinh khủng nhưng có ít lý lẽ để không tin rằng nó còn tốt hơn nhiều dưới chế độ Pol Pot. Vì vậy chúng tôi không thể chấp nhận được đánh giá của CIA cho rằng trong năm đầu của chế độ Heng Samrin, số dân của Campuchia bị mất thêm 700.000 nữa. Theo ước tính của chúng tôi thì con số chết vì thiếu lương thực là không quá 36.000, đó là một con số đáng sợ rồi.

Các điều kiện đã được cải thiện nhanh chóng từ tháng 11 năm 1979, một phần cứu trợ quốc tế đã đến được đất nước, nhưng chủ yếu là nhờ vụ gặt chính tháng 11, tháng 12. Nhưng vụ này chỉ mới được 300.000 tấn nên có tác dụng rất tạm thời.

Các nhà quan sát bên ngoài vẫn cho rằng sự phân phối viện trợ còn chưa thích hợp, còn bị người Việt Nam chiếm đoạt và họ tiên đoán sẽ có nạn đói trở lại. Nhưng những người đến thăm Campuchia thì lại đưa ra một câu chuyện khác. Tháng 9 năm 1980, John Swain đưa tin: “Thăm lại Campuchia ngày nay giống như đi vào lại một buồng bệnh nhân và thấy buồng đó đầy không khí mới… Tháng giêng trước, tôi thấy trên mỗi một bộ mặt vừa sự đau khổ vừa vẻ đói ăn… Quang cảnh đất nước cũng vậy, cũng bị tàn phá. Tôi thấy không có gì ngoài những đồng ruộng bỏ hoang và những đô thị những thôn xã tan nát… Ngày nay đất đã trở nên màu mỡ… Trong nhiều vùng của tỉnh Công-pông Chàm ruộng lúa kéo dài đến hết tầm mắt. Nông dân ở đó đã thu hoạch một vụ sớm cấy từ tháng 5. Vụ chính sẽ vào tháng 12 và nhân dân tin rằng vụ đó sẽ tốt hơn mong đợi (Xem John Swain, Xơn-đê Tai-m (London), 31-8-1980-ND). Đánh giá này đúng hơn đánh giá của các người quan sát ngoài nước. Mùa gặt năm 1980 được trên 700.000 tấn, hơn gấp đôi năm trước, và đủ để nuôi nhân dân cho đến tháng 6 năm 1981 mà không cần viện trợ từ bên ngoài. Nhưng năm 1981 nhiều vùng bị hạn hán và rồi đến tháng 8 thì lụt nặng đã tàn phá phần lớn mùa màng quanh sông Mê Công. Kết quả là, tuy không có nguy cơ có nạn đói lan rộng, nhưng đất nước còn phụ thuộc vào cứu trợ trong mùa mưa năm 1982. Năm 1982 có nhiều mưa và sản xuất đã tăng lên gấp đôi, 1,48 triệu tấn.

Tháng 3 năm 1983, Bob Sector của tờ Thời báo Los Angeles đưa tin: “Ngày này sau bốn năm tương đối yên tĩnh, một tình hình tốt lên đã trở lại một số vùng, như ở tỉnh Battambang… đầy ắp lúa chưa xay”. Một người đến thăm vùng Tây Campuchia đầu năm 1983 nói với chúng tôi về một sự đảo ngược có ý nghĩa của tình hình những năm trước. Các nhà buôn mua gạo ở thị trường nội địa để đem ra bán ở biên giới Thái Lan. Tuy nhiên, như Sector đưa tin, cũng còn nhiều vùng quan trọng thiếu lương thực.

Nhưng khi sự căng thẳng về lương thực trong nước dịu đi thì mặt chính trị của hoạt động viện trợ ngày càng nổi lên trên mặt. Vào năm 1982, những nước phương Tây cho viện trợ, gây sức ép với Liên hợp quốc cắt viện trợ bên trong Campuchia và chuyển tất cả các viện trợ đó vào biên giới Thái Lan. Các quan chức viện trợ của Liên hợp quốc bị tố cáo là trì hoãn “ngày phán xét” trong khi Tổng thư ký Liên hợp quốc Gia-vi-ê Pê-rê đơ Cu-ê-da trả lời rằng uỷ nhiệm của ông ta là giúp “nhân dân Campuchia như là một thể thống nhất” và nói bóng gió rằng chính thái độ của các nước cho viện trợ đã làm cho không thực hiện được điều đó

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét