CÁC CƯỜNG QUỐC BẬC TRUNG GIỐNG NHƯ HÀN QUỐC KHÔNG THỂ THIẾU SỨC MẠNH MỀM VÀ SỨC MẠNH HỆ THỐNG
Phần 1:
Trong khi người ta bị cuốn vào những định nghĩa phổ biến của sức mạnh mềm và ngoại giao công chúng, thì trên thực tế, những hàm ý về sự khác biệt của những định nghĩa này phụ thuộc vào một cái là cường quốc mạnh, một cái là cường quốc yếu hay như trong trường hợp của Hàn Quốc là một cường quốc bậc trung. Yul Sohn cho rằng, trong việc thực hiện ngoại giao công chúng thì khái niệm về sức mạnh hệ thống cùng với sức mạnh mềm là rất quan trọng đối với vai trò của Hàn Quốc, một cường quốc bậc trung.
Trên thế giới, nơi mà sức mạnh và sự ảnh hưởng thuộc về số đông thì nhà nước phải cam kết với nhiều người ở nhiều nơi. Bởi vì ngoại giao truyền thống là chính phủ với chính phủ giảm tương đối thì ngoại giao công chúng đang trở thành một công cụ ngoại giao chính. Đặc biệt, đối với các cường quốc bậc trung, ngoại giao công chúng quan trọng bởi vì nó tạo cho họ “nhiều cơ hội để đạt được ảnh hưởng trong các vấn đề thế giới vượt ra khỏi khả năng vật chất hạn chế của họ”. Joseph Nye, người đưa ra thuật ngữ "sức mạnh mềm" cho thấy rằng các cường quốc bậc trung đang tìm kiếm một sự lựa chọn để ép buộc quân sự và khuyến khích hoặc trừng phạt kinh tế có xu hướng sử dụng sức mạnh mềm giống như “kết nạp mọi người hơn là ép buộc họ”. Hơn nữa, họ đang ngày càng chú ý tới sức mạnh hệ thống mà bắt nguồn từ các mối quan hệ của một nước với các nước khác chứ không phải là thuộc tính của nó. Họ sử dụng luận điểm hệ thống và khả năng triệu tập của họ để bù đắp những bất lợi về kinh tế và quân sự.
Nhìn theo cách này, sự thành công hay thất bại của ngoại giao công chúng đối với các cường quốc bậc trung kiểu như Hàn Quốc dường như phụ thuộc vào hiệu quả của việc thúc đẩy, sử dụng sức mạnh mềm và sức mạnh hệ thống. Sau khi xem xét một số khía cạnh của sức mạnh mềm và sức mạnh hệ thống, tôi sẽ tìm hiểu Hàn Quốc đã phải vật lộn như thế nào với khái niệm cường quốc bậc trung, họ đã cố gắng như thế nào để thực hiện ngoại giao công chúng dựa trên sức mạnh mềm và sức mạnh hệ thống. Cuối cùng, tôi sẽ cung cấp một số khuyến nghị chính sách.
Sức mạnh mềm và sức mạnh hệ thống
Sức mạnh mềm đã dần được phổ biến rộng rãi giữa các học giả và các nhà hoạch định chính sách. Đặc biệt là trong số các nhà nước yếu tiềm lực kinh tế và quân sự tin rằng (hoặc hy vọng) họ có thể tốt hơn dưới một hình thức sức mạnh khác. Họ có thể tích lũy nguồn sức mạnh mềm (chẳng hạn như văn hóa và các giá trị) và nhận những thứ khác để mong muốn những kết quả mà họ muốn không có mối đe dọa hay trừng phạt hữu hình. Khía cạnh đặc biệt của sức mạnh mềm ở đây là sự thay đổi sở thích. Thay vì thay đổi hành vi của người khác thông qua việc áp dụng các lệnh trừng phạt và dụ dỗ, thì khái niệm sức mạnh mềm thu hút sự chú ý đến khả năng thay đổi sở thích của các chính phủ và xã hội khác. Nhưng Kahler băn khoăn liệu nguồn sức mạnh mềm như văn hóa đại chúng thay đổi thế nào sở thích của người khác trong một bối cảnh cụ thể. Ông cũng chỉ ra rằng, các phương diện ép buộc sự thay đổi sở thích không kém phần quan trọng. Trong nhiều khía cạnh, ép buộc hoặc xúi giục là hiệu quả hơn trong việc đạt được những mục tiêu trước mắt.
Nye cho rằng, sức mạnh mềm có một hiệu ứng lan tỏa, tạo ra ảnh hưởng chung chứ không phải là tạo ra một hành động cụ thể dễ dàng quan sát. Ông thừa nhận rất khó sử dụng sức mạnh mềm để đạt được một mục tiêu chính sách trước mắt. Ví dụ, sức mạnh mềm ít liên quan hơn so với sức mạnh cứng trong việc ngăn ngừa xung đột và ký kết một thỏa thuận thương mại có liên quan. Nhưng, sức mạnh mềm có liên quan đến môi trường hoặc hoàn cảnh mà trong đó một quốc gia tìm kiếm các mục tiêu cụ thể. Điều này có nghĩa là sở thích được hình thành bởi các tác động gián tiếp và lan toả của sức mạnh mềm mà vẫn có thể tạo sự khác biệt đáng kể trong việc đạt được kết quả mong muốn trong các tình huống thương lượng.
Những tác động này phải được nhận thức rõ trong một khoảng thời gian dài. Về vấn đề này, ngoại giao sức mạnh mềm dựa trên một tầm nhìn dài hạn. Thông thường, các cường quốc mạnh có một cách tiếp cận dài hạn mà những chiến lược lớn đã được xây dựng. Ngược lại, các cường quốc yếu lại bận rộn tìm kiếm mục tiêu ngay lập tức trong một tầm nhìn ngắn hạn. Nếu một quốc gia được xác định thực hiện ngoại giao công chúng dựa vào sức mạnh mềm thì nó phải tìm hiểu xem làm thế nào để cho tài nguyên của đất nước hấp dẫn qua thời gian.
Nye cho thấy ba nguồn sức mạnh mềm mà một quốc gia có thể có, đó là: văn hóa, giá trị chính trị và chính sách đối ngoại. Họ sử dụng sức mạnh mềm ở những nơi mà nền văn hóa của họ hấp dẫn đối với những nước khác, khi họ chiến thắng những giá trị của họ tại sân nhà và quốc tế, và khi chính sách đối ngoại của họ được coi là hợp pháp và có thẩm quyền. Chưa thật rõ ràng nguốn văn hóa làm thay đổi sở thích của người khác như thế nào trong việc sử dụng nguồn sức mạnh mềm này. Ví dụ, sự phổ biến đáng ngạc nhiên của K-pop trên toàn thế giới - không chỉ ở Châu Á mà còn ở nhiều nơi của châu Âu - rõ ràng giúp nâng cao nhận thức và đánh giá cao Hàn Quốc của công chúng nước ngoài. Tuy nhiên, vẫn chưa rõ làm thế nào điều này tạo ra một môi trường mà Hàn Quốc có thể theo đuổi một số mục tiêu nhất định mà không phải là trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến văn hóa. Hãy xem xét làn sóng Hàn Quốc hay Hallyu tại Nhật Bản. Mặc dù sự ảnh hưởng đáng kể của nó trên các phương tiện truyền thông Nhật Bản và một phần công chúng Nhật Bản nhưng chính sách đối ngoại của Nhật Bản đối với Hàn Quốc vẫn còn có vấn đề trong nhiều lĩnh vực, bao gồm cả các vấn đề liên quan đến lịch sử. Liệu có thể có một chiến lược văn hóa mà Hàn Quốc có thể theo đuổi đối với công chúng Nhật Bản và chính phủ của họ sẽ đạt được những điều mà những người không chia sẻ sở thích văn hóa của Hàn Quốc hay không?
Phần 2:
Những hạn chế của sức hấp dẫn
Sự nhập nhằng trong hiệu quả của sức hấp dẫn văn hóa dẫn đến một vấn đề tranh đua. Sức mạnh mềm của một quốc gia có hiệu quả nếu các quốc gia khác tranh đua hoặc quốc gia đó sẵn sàng để được xã hội hóa thông qua nó. Nguồn văn hóa đại chúng có thể hữu ích nếu nguồn văn hóa này ở các quốc gia khác lôi cuốn họ tranh đua những qui tắc, giá trị và chính sách của quốc gia này. Để thực hiện một yêu sách văn hóa, chúng ta cần tìm hiểu những cơ chế của sức hấp dẫn văn hóa dẫn đến sự tranh đua toàn quốc. Vấn đề này đã không được giải quyết đầy đủ.
Dường như những điều quan trọng hơn đang đặt ra những mục tiêu chung cho một quốc gia tìm kiếm, và rộng hơn là bản sắc dân tộc mà nó theo đuổi. Nếu một quốc gia kiên trì theo đuổi bản sắc dân tộc phù hợp với các giá trị quan trọng thì có nhiều khả năng nó được đua tranh bởi các quốc gia khác. Tương tự như vậy, các chính sách thể hiện giá trị quan trọng có nhiều khả năng được chấp nhận. Các giá trị chính trị như dân chủ và nhân quyền chắc chắn hấp dẫn những người khác. Song lại không đủ để tuyên bố chúng. Các quốc gia khác xem quốc gia này thực hiện những giá trị trong và ngoài nước như thế nào. Nếu các nước khác lĩnh hội chuẩn mực và thái độ đạo đức giả thì ít có khả năng đạt được các mục tiêu chính sách mong muốn. Ngoại giao nhân quyền của Nhật Bản là một ví dụ. Trong khi quyền con người của Nhật Bản ghi nhận ở trong nước là đủ, thì danh tiếng quốc tế của nó đã bị tổn hại bởi những từ chối về sự tham gia có tính hệ thống của chính phủ thời chiến trong chính sách “phụ nữ mua vui" và các tội ác khác của thời kỳ này.
Vật lộn với khái niệm cường quốc bậc trung
Được coi như một cường quốc bậc trung, Hàn Quốc đã phải vật lộn với sức mạnh mềm và sức mạnh hệ thống như một cơ sở cho ngoại giao công chúng của mình. Dựa trên các biến hữu hình như tổng sản phẩm quốc nội, dân số và khả năng quân sự, thì thực sự đó là một cường quốc bậc trung. Năm 2010, GDP của Hàn Quốc xếp thứ 15 trên thế giới, trong khi ngân sách quân sự của họ xếp thứ 12. Trong khi đó, dân số khoảng 50 triệu người. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng chậm chạp của Hàn Quốc trong vòng 15 năm qua có liên quan tới các đối thủ cạnh tranh kinh tế của mình, cùng với sự chênh lệch thu nhập tăng và dân số già, một mục tiêu thực tế cho đất nước này sẽ là duy trì thứ hạng hiện tại của mình trên thế giới.
Các học giả và các nhà hoạch định chính sách đối ngoại đã chỉ ra "tâm lý cường quốc yếu" của nền ngoại giao Hàn Quốc, đó là chuyên tâm theo đuổi nền an ninh riêng của mình, thường là thông qua một liên minh với một cường quốc mạnh. Tuy nhiên, có một sự đồng thuận ngày càng tăng rằng, Hàn Quốc nên đóng một vai trò quốc tế tương xứng với khả năng hữu hình ngày càng tăng của họ. Cái gọi là sự đóng góp ngoại giao trong lĩnh vực hợp tác phát triển và hoạt động gìn giữ hòa bình. Sự tham gia tích cực hơn vào các hoạt động quản trị toàn cầu, chẳng hạn như là nước chủ nhà của Hội nghị thượng đỉnh G-20, được coi như là một cách cho Hàn Quốc tăng sức mạnh mềm của mình.
Khái niệm hóa nền ngoại giao cường quốc bậc trung dựa nhiều vào môi trường quốc tế đang thay đổi và sự định hướng chính sách đối ngoại của Hàn Quốc. Sự cân bằng sức mạnh toàn cầu đã bắt đầu thay đổi trong thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 21 với sự suy giảm tương đối của Hoa Kỳ, còn Nhật Bản và châu Âu trong tình trạng trì trệ, còn cái gọi là các nước BRICS (Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc và Nam Phi ) lại phát triển. Điều này đang tạo ra một không gian quốc tế dễ thay đổi mà trong đó có hơn một vài quốc gia đang trở thành những người chơi chiếm ưu thế toàn cầu. Trong bối cảnh đó, các cường quốc bậc trung như Hàn Quốc có thể tìm thấy căn phòng (hay một phân khúc thị trường) để đóng một vai trò có ý nghĩa bằng những cách giúp phối kết hợp giữa các cường quốc lớn truyền thống, các cường quốc mới nổi và các thực thể phi nhà nước.
Tuy nhiên, sự thay đổi trong sức mạnh toàn cầu cũng tạo ra những căng thẳng trong khu vực Đông Á, nó bị thúc đẩy bởi logic của sự chuyển đổi quyền lực giữa Mỹ và Trung Quốc. Trung Quốc ngày càng quyết đoán trong khi Mỹ đang phản ứng thông qua các chiến lược cam kết và cân bằng phức tạp. Sự phát triển này đang tạo thêm nhiều khó khăn hơn cho Hàn Quốc để theo đuổi các mục tiêu riêng của mình. Số phận của bán đảo Hàn nằm trên các đường đứt gãy được vẽ nên bởi hai cường quốc này. Điều này làm tăng thêm sự cần thiết cho Hàn Quốc để đóng vai trò như một cường quốc bậc trung nhằm làm dịu sự cạnh tranh giữa các cường quốc lớn và thay đổi nền chính trị của cường quốc lớn.
Trong bối cảnh này, khái niệm hóa cường quốc bậc trung hiện tại là không đủ. Các cường quốc bậc trung thông thường được công nhận bởi các loại vấn đề, bao gồm cả các vấn đề an ninh phi truyền thống mà ứng xử của nước đó hướng vào, chẳng hạn như môi trường, công nghệ và hỗ trợ phát triển. Ứng xử của họ được mô tả như là “công dân quốc tế tốt”, người theo chủ nghĩa quốc tế, người theo chủ nghĩa đa phương, nhà hoạt động và độc lập trong các vấn đề toàn cầu. Tuy nhiên, nếu nền ngoại giao của cường quốc bậc trung diễn ra theo cách này, nghe có vẻ ngây thơ, hay tốt nhất chỉ áp dụng một phần đối với Hàn Quốc, bởi vì nước này đang phải đối mặt với những thách thức địa chính trị nghiêm trọng do các mối đe dọa hiện hữu liên tục từ miền Bắc, và do đó, bị sa lầy vào tình thế tiến thoái lưỡng nan trong an ninh truyền thống.
Sự phân tích sức mạnh hệ thống làm sáng tỏ vai trò và đặc điểm mới của cường quốc bậc trung. Hàng loạt các bài viết chính sách đối ngoại gần đây được Bộ Ngoại giao và Thương mại và Quỹ Hàn Quốc tài trợ đề xuất thực hiện nền ngoại giao của cường quốc bậc trung từ một triển vọng của sức mạnh hệ thống. Những bài viết này xác định ba hình thức của sức mạnh hệ thống dựa trên cơ cấu hệ thống – sức mạnh xã hội, sức mạnh môi giới và sức mạnh thiết kế. Phân loại sức mạnh này thành 3 vài trò tương ứng trong một thế giới có hệ thống:
- Một người triệu tập, cùng đưa các thực thể nhà nước và phi nhà nước hoạt động cùng nhau vì sự hiểu biết, lợi ích vào những nguyên tắc chung.
- Một nhà môi giới, nhiều hơn so với chỉ một nhà kết nối, cung cấp phương thức chuyển đổi, sự thay đổi và sự thuyên chuyển giữa các hệ thống khác nhau.
- Một kiến trúc sư, không hoàn toàn là một nhà thiết kế hệ thống nhưng là một đối tác, người có thể cung cấp những điều chỉnh hệ thống và sự phóng tác mà làm tăng sự hoán đổi, giảm sự dư thừa và tạo ra thứ bậc.
Phần 3:
Những thông điệp đến và từ Hàn Quốc
Nhiệm vụ trọng tâm của nền ngoại giao công chúng của Hàn Quốc trong thập kỷ tới là gửi những thông điệp xác định vai trò của Hàn Quốc trên thế giới. Khi điều này được thực hiện, một tập hợp các giá trị và các chính sách được chỉ định cho từng vai trò với 4 điểm theo thứ tự là:
Thứ nhất, ngoại giao công chúng phải được thực hiện với một tầm nhìn dài hạn. Một vài kết quả chính sách trước mắt có thể được mong đợi. Ví dụ, thêm nỗ lực dành cho Triều Tiên sẽ không nhất thiết phải mang lại một sự gia tăng tương xứng về an ninh cho Hàn Quốc. Mặc dù việc đầu tư vào sức mạnh mềm và sức mạnh hệ thống sẽ không có một tác động ngắn hạn lên các kết quả mong đợi của an ninh trên bán đảo này, nó sẽ hoạt động gián tiếp trong dài hạn.
Thứ hai, những điều có vẻ rất quan trọng trong các cuộc thảo luận về sức mạnh mềm và sức mạnh hệ thống là để tìm hiểu các quốc gia đua tranh với những quốc gia khác như thế nào. Mặc dù cơ chế này là không xác định, các thông điệp Hàn Quốc tạo ra và gửi đi cần được xem xét khía cạnh này một cách nghiêm túc và trở thành một ví dụ cho những nước khác, là chìa khóa để đi tới thành công.
Tương tự như vậy, những quy tắc hay giá trị định hướng ngoại giao là rất quan trọng. Tất cả các nước theo đuổi lợi ích dân tộc của họ, song có những lựa chọn được thực hiện về mở rộng hay thu hẹp lợi ích dân tộc như thế nào đã được xác định. Các chính sách hàm chứa và gần với những nguyên tắc quốc tế có nhiều khả năng thu hút đối với công chúng nước khác. Bằng việc làm như vậy, một cách thức mới để tính toán lợi ích quốc gia được đặt ra: khung mục tiêu của chúng ta dựa trên nguyên tắc chung. Ở đây, thử thách cuối cùng là khắc phục hiện tượng tự cho mình là trung tâm, một tính chất đặc thù của chủ nghĩa dân tộc ở Đông Bắc Á.
Cuối cùng, tất cả nền ngoại giao công chúng này phải là một con đường hai chiều. Trong một thế giới kết nối, nhà nước phải đối phó với một số lượng ngày càng nhiều các nhân vật có động cơ với một loạt các công cụ để truyền bá thông điệp của họ. Giải pháp là trở thành một phần của các cuộc đàm thoại để tham gia với công chúng nước ngoài và để công nhận thông điệp của đất nước và sửa đổi chúng khi cần thiết. Đề làm được như vậy, chính phủ cần phải xây dựng các gói tùy chỉnh các thông điệp chính sách công phục vụ nhu cầu và thị hiếu địa phương. Hiệu quả của ngoại giao công chúng phụ thuộc vào việc liệu khó khăn và hiệu quả giao tiếp của chính phủ với công chúng nước ngoài để hình thành và định hình lại các thông điệp riêng của mình hay không.
Hồng Duyên – Viện NC Đông Bắc Á
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét