Thứ Bảy, 11 tháng 7, 2015

"Tự do hàng hải và lợi ích của Mỹ ở biển Đông"

"Tự do hàng hải và lợi ích của Mỹ ở biển Đông"

BBTKhoa Quốc tế học xin giới thiệu với thầy, cô và các bạn sinh viên bài viết của PGS.TS.Phạm Quang Minh và Hà Văn Long (sinh viên khóa QH-2009-X) về chủ đề "Tự do hàng hải và lợi ích của Mỹ ở biển Đông". Bài viết được đăng trên tạp chí Quan hệ quốc phòng số 16, quý IV năm 2011.
Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) kết thúc ngày 23-7-2010, với một chủ đề nóng là Biển Đông, đã không còn thấy sự im lặng, đã không còn thấy sự hòa nhã mà thay vào đó là một bầu không khí khá căng thẳng. Người ta đã không còn thấy việc chỉ có Trung Quốc và một số nước liên quan đến tranh chấp Biển Đông ngồi nói chuyện riêng với nhau để thảo luận vấn đề tranh chấp tại Biển Đông mà thêm vào đó là một lời tuyên bố: “Mỹ có lợi ích quốc gia trong tự do hàng hải, trong tiếp cận các vùng biển chung của châu Á và tôn trọng luật pháp quốc tế ở Biển Đông. Lời phát biểu đó của Ngoại trưởng Mỹ Hi-la-ry Clin-tơn tái khẳng định mối quan tâm sâu sắc của Mỹ tới tranh chấp Biển Đông và sự ủng hộ việc quốc tế hóa Biển Đông. Liệu đây có phải một bước chuyển mình từ chính sách trung lập sang tích cực quan tâm trong tranh chấp tại Biển Đông của Chính quyền Mỹ? Một loạt các câu hỏi được đặt ra sau lời tuyên bố của Ngoại trưởng Hi-la-ry Clin-tơn như thuật ngữ tự do hàng hải là gì? Tại sao Mỹ lại coi tự do hàng hải như lợi ích quốc gia của mình? Có phải Mỹ chỉ có lợi ích về tự dohàng hải hay đằng sau nó là một loạt những lợi ích quốc gia quan trọng khác? Và cuối cùng, Mỹ sẽ phải làm gì để bảo vệ những lợi ích chiến lược của họ tại Biển Đông? Đây là những câu hỏi cần có lời giải đáp vì Mỹ là một siêu cường và chắc chắn sự thay đổi thái độ của Mỹ sẽ có tác động tới tình hình tranh chấp tại Biển Đông.
Khái niệm tự do hàng hải
Đối với Mỹ, tự do hàng hải là một nhân tố quan trọng trong những chính sách của họ tại Biển Đông. Bằng chứng là trong nhiều bài phát biểu của giới chức Mỹ như Ngoại trưởng Mỹ Hi-la-ry Clin-tơn, Bộ trưởng Quốc phòng Rô-bớt Ghết đều nhắc đến việc duy trì tự do hàng hải nhằm đảm bảo việc giao thương trên Biển Đông diễn ra một cách bình thường và không bị ngăn cản. Vậy một câu hỏi được đặt ra, đó là tự do hàng hải là gì?
Trong từ điển Bách khoa toàn thư có giải thích khái niệm tự do hàng hải như sau: “Mỗi quốc gia, không phụ thuộc vào việc quốc gia đó có biển hay không có biển, đều cóquyền để tàu mang quốc kỳ nước mình qua lại tự do trên biển. Để đảm bảo tự do hàng hải, pháp luật quốc tế cấm xây dựng các đảo nhân tạo và các công trình trên biển nếu như chúng cản trở những đường trên biển có ý nghĩa quan trọng đối với hàng hải quốc tế.”  Theo wikipedia: “Tự do hàng hải là việc mỗi quốc gia có quyền để tàu có mang quốc kỳ của nước mình đi lại tự do trên biển mà không bị đe dọa bởi tàu thuyền của các quốc gia khác”. 
Đặc biệt, trong điều 87 của Công ước Liên hợp quốc về Luật biển có nói về quyền tự do trên biển cả như sau: “Biển cả được để ngỏ cho tất cả các quốc gia, dù có biển hay không có biển. Quyền tự do trên biển cả được thực hiện trong những điều kiện do các quy định của Công ước hay và những quy tắc khác của pháp luật quốc tế trù định. Đối với các quốc gia dù có biển hay không có biển, quyền tự do này đặc biệt bao gồm tự do hàng hải, tự do hàng không, tự do đặt các dây cáp hoặc ống dẫn ngầm, tự do xây dựng các đảo nhân tạo hoặc các thiết bị được pháp luật quốc tế cho phép, tự do đánh bắt hải sản, tự do nghiên cứu khoa học”.
Như vậy, có thể thấy khái niệm tự do hàng hải là một thuật ngữ quan trọng được ghi trong Công ước Liên hợp quốc về biển và được nhiều quốc gia quan tâm.
Đến thế kỷ XX, nguyên tắc mới này trở thành một bộ phận của luật biển quốc tế hiện đang được ghi nhận trong Công ước của Liên hợp quốc năm 1982 về luật biển. Mỹ không phê chuẩn công ước này, nhưng không có nghĩa là Mỹ không bị điều chỉnh bởi các nguyên tắc nêu trong Công ước.
Lợi ích và chính sách của Mỹ ở Biển Đông
Hơn ai hết, Mỹ hiểu rõ những lợi ích mà chính sách tự do hàng hải mang lại. Mỹ cho rằng tất cả các quốc gia phải tuân theo luật biển quốc tế như đã ghi trong Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển, dù Mỹ chưa phê chuẩn Công ước. 
Lợi ích của Mỹ tại Biển Đông nằm trong lợi ích đa dạng và trải rộng của Mỹ tại Đông Á, Tây Thái Bình Dương với tư cách là một cường quốc khu vực và toàn cầu. Trong một báo cáo của Mỹ gần đây, lợi ích an ninh quốc gia của Mỹ bao gồm: Bảo vệ lãnh thổ Mỹ, người dân Mỹ, đồng minh và lợi ích của Mỹ; Ổn định khu vực và loại bỏ bất kỳ cường quốc vượt trội hay nhóm cường quốc nào sẽ đe dọa hay cản trở cơ hội hay lợi ích của Mỹ; Phát triển khu vực và thúc đẩy tự do thương mại và mở cửa thị trường; Đảm bảo một thế giới ổn định, an toàn và phi hạt nhân; Thúc đẩy các giá trị toàn cầu, như quản lý tốt, dân chủ, nhân quyền và tự do tôn giáo; Đảm bảo tự do hàng hải, điều kiện tiên quyết để ổn định khu vực và bảo vệ lợi ích của Mỹ. Những lợi ích này luôn được duy trì cho dù Chính quyền Mỹ có thay đổi. Mỹ gia tăng dính líu vào khu vực châu Á - Thái Bình Dương cũng là để phục vụ các lợi ích kể trên. Trong đó Biển Đông là nơi có  sự tập trung rất lớn những lợi ích chiến lược của Mỹ.
Chính sách của Mỹ ở Biển Đông đã không thay đổi ít nhất trong vòng 15 năm (kể từ năm 1995), tuy nhiên sự quan tâm của Mỹ tại khu vực này không đồng nhất trong các thời điểm khác nhau. Trong gần một thập kỷ đầu của thế kỷ XXI, với việc tập trung phần lớn lực lượng trong việc tiêu diệt chủ nghĩa khủng bố, vấn đề Biển Đông đã không nằm trong bản đồ tư duy của Chính quyền Mỹ. Tuy nhiên, khi bối cảnh chiến lược tại khu vực này thay đổi cùng với những hành động ngày càng quyết đoán của Trung Quốc đã khơi lại sự quan tâm của Mỹ và dẫn đến việc khẳng định lại chính sách của Mỹ ở khu vực này. Trong bản tuyên bố về chính sách của Mỹ tại Biển Đông ngày 10-5-1995 có nêu: “Duy trì tự do hàng hải là lợi ích cơ bản của Mỹ. Việc không ngăn cản sự tự do di chuyển của mọi loại thuyền bè và máy bay trên Biển Đông là rất cần thiết cho hòa bình và thịnh vượng của toàn khu vực châu Á - Thái Bình Dương, trong đó bao gồm cả Mỹ”.
Bên cạnh đó, trong bài phát biểu của mình tại cuộc đối thoại Shangri-La, tháng 6-2010 tại Xin-ga-po, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Rô-bớt Ghết cho biết: “Chính sách của Mỹ rất rõ ràng. Việc duy trì ổn định, tự do hàng hải và không gây cản trở cho sự phát triển kinh tế là điều cần thiết”. Sau đó một tháng, vào ngày 23-7-2010 là bài phát biểu của Ngoại trưởng Mỹ Hi-la-ry Clin-tơn tại hội nghị ARF diễn ra tại Hà Nội: “Mỹ có lợi ích quốc gia trong tự do hàng hải, trong tiếp cận các vùng biển chung của châu Á và tôn trọng luật pháp quốc tế ở biển Đông”. 
Đặc biệt là bản tuyên bố chung Mỹ - ASEAN vào tháng 10-2010 cũng đã khẳng định: “Chúng tôi tái khẳng định tầm quan trọng của ổn định và hòa bình khu vực, an ninh hàng hải, không cản trở thương mại và tự do hàng hải theo những quy định liên quan được nhất trí của luật pháp quốc tế, gồm Công ước LHQ về Luật Biển (UNCLOS) và những điều luật hàng hải quốc tế khác, đồng thời giải quyết hoà bình các tranh chấp”.
Tóm lại, có thể thấy, thái độ của Mỹ trong vấn đề Biển Đông chịu sự chi phối bởi chiến lược cơ bản của Mỹ ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương và những ảnh hưởng chính sách của nước này đối với Trung Quốc và các nước Đông Nam Á. Đối với vấn đề tự do hàng hải tại Biển Đông, Mỹ luôn giữ một sự quan tâm đặc biệt đến mức mà Mỹ gọi đó là lợi ích quốc gia, bởi duy trì được tự do hàng hải sẽ là một cách tốt nhất để Mỹ có thể can dự vào tranh chấp Biển Đông nhằm trực tiếp bảo vệ những lợi ích của Mỹ ở vùng biển này. Vậy những lợi ích đó là gì?
Biện pháp của Mỹ nhằm bảo vệ lợi ích tại Biển Đông và những tác động tới quan hệ quốc tế trong khu vực
Để bảo vệ lợi ích to lớn của mình, mục tiêu chiến lược của Mỹ là duy trì sự cân bằng chiến lược ở Biển Đông và sự ổn định khu vực, ngăn chặn các nước khác chiếm vị thế chi phối khu vực Biển Đông. Để thực hiện mục tiêu chiến lược này, Mỹ chủ yếu xuất phát từ hai góc độ, xây dựng cơ chế an ninh ổn định tại khu vực Biển Đông và duy trì sự cân bằng sức mạnh trong khu vực, tăng cường bố trí lực lượng của mình ở Biển Đông.
Tăng cường quan hệ với Nhật Bản, Ấn Độ và Ô-xtrây-li-a là biện pháp cụ thể của Mỹ trong việc xây dựng cơ chế vĩ mô. Ở khu vực, việc tăng cường quan hệ với Nhật Bản sẽ có lợi cho Mỹ nâng cao khả năng kiểm soát môi trường an ninh ở khu vực này trong tương lai. Mỹ và Nhật Bản thống nhất về lợi ích ở hai mặt là phòng ngừa Trung Quốc và cùng nhau giữ vững tuyến hàng hải quốc tế ở Biển Đông. Với mục tiêu lớn là phòng ngừa Trung Quốc, Mỹ cũng phải tăng cường quan hệ với Ấn Độ. Hiện tại, Trung Quốc và Ấn Độ là hai quốc gia lớn và phát triển năng động nhất trong khu vực và cũng là hai quốc gia có mối quan hệ phức tạp kéo dài cho đến tận ngày nay. Cả hai thực chất có lẽ đều hướng đến mục đích nhằm kiềm chế sự ảnh hưởng của mỗi bên.
Ngoài ra, việc Trung Quốc tăng cường hiện đại hóa quân đội đang làm cho nhiều quốc gia trong khu vực lo ngại trong đó có Ô-xtrây-li-a. Về vấn đề Biển Đông, Ô-xtrây-li-a cócùng quan điểm với Mỹ đó là duy trì tự do hàng hải tại vùng biển này: “Lợi ích của Ô-xtrây-li-a ở Biển Đông là duy trì sự ổn định rộng rãi hơn ở khu vực này, bao gồm quần đảo Trường Sa xưa nay vốn tồn tại tranh chấp chủ quyền, làm cho con đường giao thông trên biển quan trọng này được tiếp tục mở cửa và tự do sử dụng”. Cũng giống với Nhật Bản, Mỹ và Ô-xtrây-li-a đều có chung hai lợi ích là phòng ngừa Trung Quốc và duy trì tự do hàng hải tại Biển Đông. Bên cạnh đó là một mối quan hệ đối tác cốt lõi đã có từ lâu giữa hai quốc gia. Vì thế sự hợp tác giữa Mỹ và Ô-xtrây-li-a vẫn sẽ tiếp tục được củng cố và tăng cường, chính điều này giúp Mỹ có được một thế lực hùng hậu tại Tây Nam Thái Bình Dương, đảm bảo vững chắc trụ cột thứ 3 trong chính sách Biển Đông của Mỹ.
Ở góc độ thứ hai, bên cạnh việc xây dựng cơ chế vĩ mô bằng việc tăng cường quan hệ với Nhật Bản, Ấn Độ và Ô-xtrây-li-a, Mỹ cũng cần phải duy trì sự cân bằng sức mạnh trong khu vực, tăng cường bố trí lực lượng của mình ở Biển Đông.
Để thực hiện mục tiêu này, chính sách chủ yếu của Mỹ ở Biển Đông là giữ vững mối quan hệ đặc biệt với các quốc gia Đông Nam Á có liên quan đến vấn đề Biển Đông. Một mặt, Mỹ tiếp tục duy trì mối quan hệ liên minh quân sự với Phi-líp-pin, Thái Lan, đồng thời tăng cường hợp tác quân sự với In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a và Việt Nam. Mặt khác, Mỹ ra sức đáp ứng đầy đủ những nhu cầu lợi ích hiện thực của các nước Đông Nam Á, hỗ trợ trang thiết bị vũ khí, kỹ thuật, thông tin cho các nước này. Điều này được thể hiện rất rõ ràng trong chiến lược quân sự mới nhất của Mỹ, công bố hôm 8-2-2011. Lầu Năm Góc đề ra các phương hướng ưu tiên phân bổ quân sự Mỹ, trong đó khẳng định việc chú trọng và tăng cường nguồn lực vào các nước Đông Nam Á. Bản chiến lược mới khẳng định Quân đội Mỹ cần tìm cách “tăng chú ý và đầu tư nguồn lực vào Đông Nam Á và Nam Á”, tăng số lượng các cuộc tập trận với Thái Lan, Phi-líp-pin, Việt Nam và một số nước khác. 
Về kinh tế, Mỹ tiếp tục tăng cường quan hệ đầu tư, thương mại với các nước Đông Nam Á. Biểu hiện là Mỹ đã chủ động đề xuất Sáng kiến vì sự Năng động ASEAN (EAI) về kinh tế - thương mại và Kế hoạch Hợp tác ASEAN (ACP) về hợp tác phát triển. Hai bên cũng đang xây dựng Chương trình Hỗ trợ và Đào tạo Kỹ thuật ASEAN - Mỹ giai đoạn 2 (TATF) trị giá 20 triệu USD để hỗ trợ ASEAN xây dựng cộng đồng vào năm 2015; triển khai các hoạt động hợp tác trong Chương trình Viễn cảnh Phát triển ASEAN (ADVANCE) trị giá 150 triệu USD nhằm hỗ trợ các chương trình khu vực và song phương của ASEAN cũng như hỗ trợ nỗ lực liên kết kinh tế và xây dựng cộng đồng của ASEAN.
Về chính trị, trong thời kỳ thuyết đe dọa từ Trung Quốc thịnh hành, một bộ phận quan chức và giới truyền thông Mỹ cũng từng dựa vào vấn đề Biển Đông để bày tỏ lập trường của mình. Đây chính là thời cơ rất tốt để Mỹ có thể can thiệp mạnh mẽ hơn, với tuyên bố “Mỹ có lợi ích quốc gia trong tự do hàng hải, trong tiếp cận các vùng biển chung của châu Á và tôn trọng luật pháp quốc tế ở Biển Đông” của Ngoại trưởng Mỹ Hi-la-ry Clin-tơn (23-7-2010) tại hội nghị ARF diễn ra tại Hà Nội và chính sách quay trở lại Đông Nam Á của Chính quyền
Ô-ba-ma. Điều này cho thấy nước Mỹ đã chuyển từ chính sách ít quan tâm trước đây sang tích cực quan tâm và tích cực thúc đẩy vấn đề Biển Đông theo hướng quốc tế hóa, đồng thời gửi đi một thông điệp đó là nước Mỹ sẵn sàng trở thành một lực lượng duy trì an ninh, ổn định tại Biển Đông, cũng như toàn bộ khu vực châu Á - Thái Bình Dương và làm chỗ dựa cho các nước Đông Nam Á trước sự đe dọa đến từ Trung Quốc.
Từ năm 2009 đến nay, trong bối cảnh quay trở lại Đông Nam Á, Mỹ càng chú trọng phát huy ảnh hưởng về các mặt chiến lược, chính trị, kinh tế, văn hóa và quân sự ở khu vực Biển Đông. Từ việc tăng cường hiện diện và ảnh hưởng quân sự cho thấy hoạt động quân sự trong hai năm qua của Mỹ đang ngày càng tăng lên.
Hiện nay, tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương thì Nhật Bản và Phi-líp-pin là hai quốc gia đồng minh của Mỹ chịu ảnh hưởng lớn nhất từ vấn đề an ninh trong khu vực Biển Đông, vì thế việc đảm bảo môi trường an ninh, ổn định tại Biển Đông là hết sức quan trọng đối với Mỹ, bởi muốn bảo vệ được lợi ích thì phải tăng cường sự hiện diện mà muốn tăng cường sự hiện diện tại Biển Đông thì không thể không có các quốc gia đồng minh hỗ trợ và làm điểm tựa vững chắc.
Đối với Nhật Bản, một quốc gia tại khu vực Đông Bắc Á, với nguồn tài nguyên nghèo nàn, sự suy thoái của nền kinh tế, tình trạng lão hóa dân số và sự đe dọa về vị thế chiến lược trong khu vực trước sự trỗi dậy ngày càng mạnh mẽ của Trung Quốc thì việc vẫn phải tiếp tục và tăng hợp tác quân sự với Mỹ là điều không thể tránh khỏi. Mặc dù hiện nay quan hệ Nhật - Mỹ đang bước vào giai đoạn thách thức mà biểu hiện là vấn đề căng thẳng giữa hai nước xuất hiện xoay quanh vấn đề căn cứ quân sự Fu-ten-ma của Mỹ ở đảo Ô-ki-na-oa hay việc Nhật Bản tuyên bố chấm dứt sứ mệnh hải quân tiếp nhiên liệu cho các lực lượng do Mỹ lãnh đạo tại Áp-ga-ni-xtan, nhưng việc tiếp tục duy trì mối quan hệ đồng minh với Mỹ sẽ giúp Nhật Bản tránh khỏi những phiền toái về mặt an ninh, trước hết là việc đảm bảo duy trì ổn định tại khu vực Biển Đông, nơi cung cấp phần lớn lượng dầu mỏ cho Nhật Bản, tiếp đó là việc đảm bảo sự an toàn cho Nhật Bản trước sự đe dọa ngày càng lớn đến từ Trung Quốc. Sự tương tác về lợi ích chính là chìa khóa tác động đến quan hệ Mỹ - Nhật. Nhật Bản cần Mỹ để đảm bảo an ninh quốc gia, trong khi Mỹ cần Nhật Bản để duy trì sự hiện diện quân sự, bảo vệ lợi ích tại châu Á - Thái Bình Dương. Sự tác động qua lại đó khiến quan hệ Mỹ - Nhật dù nồng ấm hay lạnh nhạt thì sự hợp tác vẫn luôn phải được duy trì, bởi cả hai đều hiểu rằng nếu thiếu nhau thì đó có thể sẽ là bi kịch.
Đối với Phi-líp-pin, một trong những nước có tuyên bố chủ quyền tại Biển Đông, đồng thời là đồng minh và có quan hệ song phương rất chặt chẽ với Mỹ thì việc dựa vào Mỹ sẽ là một biện pháp nhằm cân bằng sức mạnh với Trung Quốc tại Biển Đông, đảm bảo an toàn về lãnh hải, tạo ưu thế trong các vấn đề về tranh chấp Biển Đông. Về phần mình, Mỹ cũng hết sức coi trọng vị thế và vai trò của Phi-líp-pin trong an ninh khu vực. Ngày 30-7-2009, khi gặp gỡ Tổng thống Phi-líp-pin A-rô-giô tại Nhà Trắng, Tổng thống Mỹ Ô-ba-ma cho rằng Phi-líp-pin là nước điều tiết mối quan hệ giữa Mỹ với Đông Nam Á. Đây như một lời khẳng định cho chính sách trở lại Đông Nam Á của Mỹ và trực tiếp nói lên tầm quan trọng của Phi-líp-pin trong việc làm chân trụ cho Hải quân Mỹ tiếp tục sự hiện diện của mình tại Đông Nam Á. Tuy vậy, xét về mặt lâu dài, Phi-líp-pin lại muốn tự chủ hơn về mặt quân sự cũng như chính trị. Nhưng muốn làm được điều này thì phải trải qua một thời gian với nhiều thách thức khó khăn như phải đối đầu với Trung Quốc hay việc đảm bảo an ninh hàng hải tại Biển Đông, do đó sự liên minh giữa Mỹ và Phi-líp-pin vẫn phải tiếp tục được đảm bảo vì đôi bên cùng có lợi.
Đối với Ma-lai-xi-a và In-đô-nê-xi-a, hai đối tác quan trọng của Mỹ tại Đông Nam Á, thì việc tăng cường sự hiện diện quân sự của Mỹ và mối quan hệ ngày càng phát triển tốt đẹp sẽ khiến cho hai nước này có thể tự tin hơn trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến chủ quyền Biển Đông. Đối với Ma-lai-xi-a, cho dù với Mỹ còn nhiều bất đồng về chính trị, nhưng về quân sự nước này lại tích cực tham gia Hiệp ước phòng thủ chung 5 nước do Ô-xtrây-li-a, đồngminh của Mỹ, tổ chức và hàng năm tham gia tập trận chung giữa Mỹ với các nước Đông Nam Á. Ma-lai-xi-adựa vào sức mạnh quân sự và kỹ thuật của Mỹ để đẩy mạnh thực lực của bản thân, và coi đó là nền tảng, để tiếp tục tuyên bố chủ quyền, khai thác phát triển tài nguyên tại Biển Đông. Đối với In-đô-nê-xi-a, quan hệ ngoại giao với Mỹ đã không ngừng được cải thiện từ sau sự kiện 11-9-2001. Hiện Mỹ đã khôi phục toàn diện sự viện trợ quân sự đối với In-đô-nê-xi-a. Chính sách chủ yếu của In-đô-nê-xi-avề vấn đề Biển Đông là dựa vào hội nghị đa phương và sức mạnh nước lớn để thúc đẩy việc quốc tế hóa, đa phương hóa vấn đề Biển Đông, từ đó đạt được sự tối ưu hóa lợi ích của mình ở Biển Đông. 
Có thể thấy về mặt chiến lược, quan hệ giữa Mỹ với In-đô-nê-xi-a và Ma-lai-xi-a có sự tác động tương hỗ, bổ khuyết cho nhau. Nếu như In-đô-nê-xi-a và Ma-lai-xi-a cần Mỹ để cân bằng sức mạnh với Trung Quốc tại Biển Đông, thì Mỹ lại cần phải hợp tác với hai nước trên để duy trì và mở rộng phạm vi ảnh hưởng tại Biển Đông, trực tiếp bảo vệ tự do hàng hải cũng như các lợi ích khác của Mỹ ở Biển Đông.
Với việc Ngoại trưởng Mỹ Hi-la-ry Clin-tơn ký vào Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác của ASEAN tháng 7/2009, dường như Mỹ đã chấm dứt một giai đoạn thả nổi chính sách khu vực và bắt đầu tăng cường sự tham gia vào những vấn đề quan trọng của khu vực này. Với tuyên bố của Ngoại trưởng Hi-la-ry Clin-tơn tại Thái Lan, tháng 7-2009 và tại hội nghị ARF tháng 7-2010 ở Hà Nội về lợi ích quốc gia của Mỹ ở Biển Đông, Mỹ đã chuyển từ lập trường xao nhãng sang một chính sách mới, tích cực quan tâm về Biển Đông. Tuy nhiên, dường như Mỹ đang trong tình thế tiến thoái lưỡng nan về an ninh trong quan hệ với Trung Quốc, thể hiện rõ trong việc mỗi bên đều đặt dấu hỏi về động cơ phía sau thế trận quân sự của bên kia ở châu Á - Thái Bình Dương, trong đó một cường quốc muốn giữ nguyên trạng, còn cường quốc kia muốn thay đổi thực trạng. Do đó, khoảng cách về lợi ích, giá trị và khả năng giữa Mỹ và Trung Quốc sẽ ngăn cản hai nước tiến đến một khối siêu quyền lực, có thể cùng nhau dàn xếp các vấn đề an ninh khu vực và thế giới. Cũng vì thế mà khả năng đổi chác và nhân nhượng giữa hai nước ở Biển Đông là rất khó xảy ra kể cả việc đó vốn là bản chất quan hệ nước lớn mà thay vào đó là sự cạnh tranh dưới nhiều hình thức khác nhau giữa Mỹ và Trung Quốc trong những năm tiếp theo.
Triển vọng
Kết thúc năm 2010 đầy biến động về kinh tế lẫn chính trị, bản đồ địa chính trị châu Á đang được định hình lại với sự nổi lên của Trung Quốc và sự quay trở lại của Mỹ trong khu vực. Trong đó nổi lên ba xu thế chủ đạo trong cấu trúc an ninh của khu vực châu Á. 
Xu hướng chủ đạo đầu tiên là cấu trúc an ninh khu vực vẫn còn phụ thuộc vào hệthống liên minh an ninh Trục và nan hoa do Mỹ lãnh đạo. Ngoài những liên minh an ninh Mỹ - Nhật, Mỹ - Hàn, Mỹ - Ô-xtrây-li-a, đối tác an ninh là một bước phát triển mới giữa Mỹ và các nước trong khu vực. Mối quan hệ này bao gồm những cuộc tập trận chung, huấn luyện, chia sẻ thông tin tình báo, bán vũ khí, trao đổi các phái đoàn quân sự... Quan hệ đối tác an ninh, không bắt buộc một bên phải bảo vệ bên kia, đã hình thành giữa Mỹ với Ấn Độ, Xin-ga-po, Pa-ki-xtan và gần đây gồm cả Việt Nam, Ma-lai-xi-a và In-đô-nê-xi-a. Nhìn chung trong cấu trúc an ninh châu Á, Mỹ vẫn duy trì vai trò đầu tàu. Điều này còn được thấy rõ ở việc Mỹ biến đảo Gu-am thành căn cứ quân sự lớn nhất của Mỹ trên thế giới với tất cả các loại vũ khí và hệ thống vũ khí hiện đại mà Mỹ có. Chuyển động đến Thái Bình Dương là một phần trong kế hoạch tái bố trí lại lực lượng Mỹ từ Tây (châu Âu) sang Đông (châu Á).
Xu hướng thứ ha là vai trò ngày càng tăng của Trung Quốc trong các mối quan hệ ngoạigiao trong những năm gần đây. Trung Quốc đang làm hết sức để đặt các mối quan hệ song phương trong khu vực, kể cả với Nhật Bản, trên nền tảng tốt hơn. Sự cạnh tranh giữa Trung - Mỹ - Nhật, ba nền kinh tế lớn nhất thế giới, đang mở ra những cơ hội và thách thức rất lớn. Sự vận động trong quan hệ Mỹ - Trung là điều đáng quan tâm nhất hiện nay. Điều này đang xảy ra vì ảnh hưởng của Trung Quốc hiện nay đang tăng lên ở nhiều nơi trên thế giới. Trong chuyến thăm châu Á năm 2010, Ngoại trưởng Mỹ Hi-la-ry Clin-tơn kêu gọi Trung Quốc hợp tác về các vấn đề an ninh phi truyền thống như biến đổi khí hậu, an ninh năng lượng, kiểm soát vũ khí và ổn định tài chính toàn cầu. Dư luận đang đặt câu hỏi liệu quan hệ Mỹ - Trung Quốc sẽ đi về đâu?
Xu hướng thứ ba: cấu trúc khu vực đa tầng và cộng đồng an ninh châu Á đang nổi lên. Cấu trúc này bao gồm nhiều diễn đàn đối thoại, đối thoại chính phủ và phi chính phủ, như Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF), ASEAN+3, Hội nghị thượng đỉnh Đông Á, Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN mở rộng (ADMM+) và gần đây là Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) ... Trong khi Chính quyền Bu-sơ trước đây không chú ý nhiều đến cấu trúc này, thậm chí không đánh giá cao nó, thì Chính quyền Ô-ba-ma đã phát tín hiệu cho thấy họ nghiêm túc quan tâm đến cơ chế này. Nhìn tổng thể, không giống trước đây, hiện nay Mỹ đang ngày càng mở cửa với các tổ chức đa phương của châu Á.
Tóm lại, với chính sách trở lại Đông Nam Á của mình, Mỹ đang thể hiện một vai trò tích cực trong việc đảm bảo cân bằng sức mạnh tại Biển Đông, duy trì môi trường an ninh, hòa bình và ổn định trong khu vực. Qua đó, giúp Mỹ có thể trực tiếp bảo vệ tự do hàng hải và những lợi ích quan trọng khác của Mỹ ở Biển Đông./.
Tài liệu tham khảo chính
- “Biển Đông : quan điểm từ Hoa Kỳ” của GS. Bronson Percival, cố vấn cao cấp trung tâm chến lược CAN (trước đây là trung tâm phân tích hải quân), Virginia, Hoa Kỳ;
   - Nhân tố Mỹ và những ảnh hưởng trong tranh chấp biển Đông (Tạp chí châu Á - Thái Bình Dương đương đại, Trung Quốc - Số 1-2010); Các vấn đề quốc tế số 8-2010;
- Michael A. Becker, The Shifting Public Order of the Oceans: Freedom of Navigation and the Interdiction of Ships at Sea;
- Ralph A. Cossa, Brad Glosserman, Michael A. McDevitt, Nirav Patel, James Przystup, Brad Roberts, “The United States and the Asia-Pacific Region: Security Strategy for the Obama Administration”, tháng 2-2009, pp.10, 15;
- Ralph A. Cossa, “Security Implications of Conflict in the South China Sea: Exploring Potential Triggers of Conflict”, A Pacific Forum CSIS, tháng 3-1998, tr.7.;
- Ralph A. Cossa, Security Implications of Conflicting the South China Sea: Exploring Potential Triggers of Conflict;
- Mohamed Jawhar bin Hassan, “Disputes in the South China Sea: Approaches for Conflict Management” in D. da Cunha (ed.) Southeast Asian Perspctives on Security, Singapore, Seng Lee Press, 2000”, tr. 100;
- Thrassy N. Marketos, 2009. China’s Energy Geopolitics: the Shanghai Cooperation Organization and Central Asia. Taylor & Francis Routledge.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét